* Bảng Hoạt Động Cơ Thể Con Người


Chia sẻ:

CẤU TẠO VÀ HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI
CÁC BỘ PHẬN THỂ – CÁC GIÁC QUAN – CÁC TRUNG TÂM LỰC – BẢN NĂNG CON NGƯỜI

MỤC LỤC TRONG TRANG NÀY

+ PHẦN 1 – SÁCH LUẬN VỀ LỬA CÀN KHÔN

+ PHẦN 2- SÁCH LUẬN VỀ HUYỀN LINH THUẬT

PHẦN 1 – SÁCH LUẬN VỀ LỬA CÀN KHÔN

I- CHUYỂN ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG TÂM LỰC (Theo Luận về lửa càn khôn, trang 162)

+ Do đó, ở đây, chúng ta sẽ chỉ quan tâm tới các trung tâm lực có liên quan tới cuộc tiến hoá của các thể tinh anh, sự tiến hoá tâm linh, chớ không quan tâm tới các trung tâm lực liên hệ với cuộc tiến hoá và sự sinh sôi nảy nở của nhục thể. Có năm trung tâm lực loại này :

1. Trung tâm lực ở đáy xương sống, trung tâm lực duy nhất có liên quan với những gì có một hiệu quả vật chất.
2. Trung tâm lực đan điền, trung tâm lực quan trọng nhất trong thể theo quan điểm cõi cảm dục.
3. Trung tâm lực cổ họng quan trọng nhất theo quan điểm cõi trí.
4. Trung tâm lực nơi vùng tim vốn có mối liên hệ huyền bí với cõi Bồ đề.
5. Trung tâm lực đỉnh đầu, có liên quan với cõi Niết Bàn.
– Chúng ta không bàn đến các trung tâm lực thấp, tức các trung tâm lực liên quan tới sinh sản, mà cũng không nhắc tới trung tâm lực lá lách có liên quan trực tiếp với thể dĩ thái và là nơi truyền prana, chúng đã được bàn đến ở phần trước rồi.
Các trung tâm lực trong con người, về căn bản liên quan đến trạng thái Lửa trong con người hay với tinh thần thiêng liêng. Chúng dứt khoát là liên hệ với Chân Thần, với trạng thái ý chí, với sự bất tử, sự sống, với ý chí muốn sống và với các quyền năng có sẵn của Tinh Thần. Chúng không liên quan với việc biểu hiện ra ngoại cảnh và sự biểu lộ, mà liên quan với thần lực (force), hay các quyền năng của sự sống thiêng liêng (LVLCK, tr 165)

* Chúng ta phải gạt bỏ ý tưởng sai lầm trong trí rằng các trung tâm lực này là các sự vật hồng trần (physical things) (LVLCK, tr 168)

+ Vì là chuyển động quay, kết quả được tạo ra trong vật chất là một hiệu ứng xoay tròn có thể nhận thấy được bằng nhãn thông dưới hình dạng các bánh xe lửa nằm ở :

1. Trong vùng thấp nhất của xương sống.
2. Giữa các xương sườn ngay dưới cách mô.
3. Trong vùng ngực bên trái.
4. Trong trung tâm của cổ họng.
5. Ngay trên đỉnh đầu.

Tôi xin mô tả các trung tâm lực này đầy đủ chi tiết hơn, bàn về chúng như được nhìn thấy trong chất dĩ thái và đặt nền tảng cho những gì mà tôi nói đến tương tự như ông C. W. Leadbeater đề cập trong tác phẩm “Cuộc Sống Nội Tâm” (“Inner Life”), quyển I, trang 447- 460

Chúng ta sẽ chú ý màu sắc và các cánh hoa :
1. Trung tâm lực ở đáy xương sống, 4 cánh. Các cánh này có hình dạng một thập giá, toả ra lửa vàng cam.
2. Trung tâm lực đan điền, 10 cánh, màu hồng pha lục.
3. Trung tâm lực ở tim, 12 cánh, vàng rực.
4. Trung tâm lực cổ họng, 16 cánh, xanh dương ánh bạc, nhưng xanh dương trội hơn.
5. Trung tâm lực đỉnh đầu chia làm hai :
a. Giữa lông mày, gồm 96 cánh, ½ của hoa sen là hồng và vàng, nửa kia xanh và tím.
b. Ngay đỉnh đầu. Một trung tâm lực gồm 12 cánh hoa chính màu trắng và vàng, 960 cánh phụ xếp chung quanh 12 cánh ở giữa. Điều này tạo nên tổng số 1068 cánh trong 2 trung tâm lực ở đầu (tạo thành một trung tâm lực duy nhất) hay là 356 lần 3. Tất cả các con số này đều có một ý nghĩa huyền bí. (LVLCK, tr 168)

+ Ở đây, tàng ẩn một trong các bí mật về điểm đạo và nơi đây cũng có một số nguy hiểm kèm theo trong việc phổ biến quá nhanh chi tiết liên hệ đến các cung.
1. Tam giác sinh khí (pranic triangle)
a. Trung tâm lực ở vai.
b. Trung tâm lực gần cách mô.
c. Lá lách.
2. Người được kiểm soát từ cõi cảm dục
a. Đáy xương sống
b. Đan điền.
c. Tim
3. Người được kiểm soát từ cõi trí
a. Đáy xương sống
b. Tim
c. Cổ họng
4. Người được Chân ngã kiểm soát phần nào, người tiến hoá.
a. Tim
d. Cổ họng
e. Đầu, nghĩa là bốn trung tâm lực thứ yếu và tổng hợp của chúng, trung tâm lực trên tuỷ sống.
5. Người tâm linh đến lần điểm đạo 3
a. Tim
b. Cổ họng
c. Bảy trung tâm lực trên đầu
6. Người tâm linh đến lần điểm đạo 5
a. Tim
b. Bảy trung tâm lực ở đầu
c. Hai hoa sen nhiều cánh (LVLCK, tr 169)

+ Năm biểu tượng tiến hóa của các Trung tâm lưc theo trình tự tiến hóa gồm (LVLCK, tr 169):

(1) – Vòng tròn; (2) – Vòng tròn có tâm điểm;  (3) – Vòng tròn chia đôi; (4) – Vòng tròn chia tư; (5) – Chữ Vạn – Có chiều đo thứ 4

+ Cũng liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, 3 hành tinh bằng chất dĩ thái của dãy chúng ta – đó là Địa Cầu, Thuỷ tinh và Hoả tinh – hợp thành một tam giác rất quan trọng, vì thế có thể nói ra ở đây rằng ở mức hiện tại trong sự tiến hoá của các trung tâm lực Thượng Đế,
Kim Tinh, Địa CầuThổ Tinh (Saturn) hợp thành một tam giác rất lý thú. Đó là một tam giác mà vào lúc này đang trải qua việc làm sinh động thông qua tác động của hoả xà; hậu quả là tăng thêm khả năng rung động của các trung tâm lực, chúng đang từ từ trở nên có chiều đo thứ tư.
Chưa được phép nêu ra các tam giác khác trong số các tam giác vĩ đại, nhưng về phần các trung tâm lực, chúng ta có thể đưa ra ở đây hai gợi ý:
* Thứ nhất. Kim tinh tương ứng với trung tâm lực ở tim trong thể Thượng Đế và do đó có một liên hệ hỗ tương với tất cả các trung tâm lực khác trong Thái dương hệ, nơi mà trạng thái tâm là trạng thái nổi bật.
* Thứ hai. Thổ tinh tương ứng với trung tâm lực cổ họng, hay là với hoạt động sáng tạo của Ngôi Ba. (LVLCK, tr 182)

+ 3. Các trung tâm lực và hoả xà
Như đã nói ở trên, không thể nói nhiều về hoả xà. Tuy nhiên, có thể là hữu ích mà kể ra một cách vắn tắt những gì nên nói:
a. Hoả xà nằm ở đáy xương sống và nơi một người bình thường, chức năng chính của nó là làm sinh động thể.
b. Hoả xà tạo nên ba sự nhất quán trong thời kỳ tiến hoá:
– Với lửa phát xạ của thể hay prana ở điểm giữa các bả vai.
– Với các lửa trí tuệ ở điểm ngay chót xương sống, trong trung tâm lực phía sau cổ họng.
– Với lửa của tinh thần ở điểm nơi mà hai luồng hoả hợp nhất của vật chấttrí tuệ phát ra từ đỉnh đầu.
c. Mỗi một trong ba vận hà nằm trong cột xương sống có mục đích đặc biệt là phối hợp các luồng hoả tam phân này. (LVLCK, tr 184)

+ CÁC TRUNG TÂM LỰC VÀ CÁC GIÁC QUAN BÌNH THƯỜNG VÀ SIÊU THƯỜNG (LVLCK, tr 185)

– Trích ghi chú ở chân trang: Các hành (elements) là tiền bối (progenitors) của giác quan. GLBN II, 112, 113.
a. Aether….Thính giác…Âm thanh…………………………. Cõi Chân Thần
b. Phong… Xúc giác….. Âm thanh, xúc giác…………….  Cõi Bồ đề
c. Hoả…… Thị giác……. Âm thanh, xúc giác, thị giác…….Cõi trí
d. Thuỷ….. Vị giác…….. Âm thanh, xúc giác, thị giác…… Cõi cảm dục vị giác.
e. Thổ…… Khứu giác…. Âm thanh, xúc giác, thị giác, …  Cõi trần, vị giác, khứu giác.
7. Mọi giác quan đều thấm nhập (pervades) giác quan khác. GLBN III, 569.
Không có trật tự đại đồng. Tất cả đều ở trên mọi cõi. GLBN III, 550.
8. Các giác quan tương ứng với mọi giác quan thất phân khác trong thiên nhiên. Xem GLBN III, 448. So với GLBN III, 497.

+ Như chúng ta biết, có 5 giác quan và theo thứ tự phát triển như sau (LVLCK, tr 187):
a. Thính giác
b. Xúc giác
c. Thị giác
d. Vị giác
e. Khứu giác
Mỗi một trong năm giác quan này có liên quan rõ rệt với cõi này hay cõi khác và cũng có một tương ứng trên mọi cõi.
Trước tiên, chúng ta hãy đề cập đến một trong số các giác quan này, nêu ra một số sự việc lý thú liên quan với chúng và nêu sự tương ứng về cõi phụ của chúng.
Cõi Giác quan
1. Hồng trần ….. Thính giác
2. Cảm dục ……..Xúc giác hay cảm giác
3. Trí ………………Thị giác
4. Bồ đề ………….Vị giác
5. Niết Bàn ……..Khứu giác

+ TIẾN HOÁ GIÁC QUAN TRONG TIỂU THIÊN ĐỊA (LVLCK, tr188)
Cõi Hồng trần…         Đếm nghịch
1. Thính giác……………… thứ 5…….. thể hơi
2. Xúc giác, cảm giác….. thứ 4….… dĩ thái 1
3. Thị giác ………………… thứ 3… …. siêu dĩ thái
4. Vị giác …………………. thứ 2……… á nguyên tử
5. Khứu giác … ………… thứ 1 ….… nguyên tử
Cõi cảm dục….
1. Nhĩ thông…………….. thứ 5
2. Trắc lượng tâm lý……. thứ 4
3. Nhãn thông ………..… thứ 3
4. Tưởng tượng ……….. thứ 2
5. Lý tưởng cảm xúc ….. thứ 1
Trí tuệ
1. Nhĩ thông bậc cao ………………… thứ 7     (4,5,6,7)
2. Trắc lượng tâm lý hành tinh … ….thứ 6       Cõi sắc
3. Nhãn thông bậc cao …………..….thứ 5       tướng
4. Phân biện ………………………. .. thứ 4
5. Phân biện tinh thần ………………. thứ 3       (1,2,3) Cõi
6. Đáp ứng với rung động tập thể…. thứ 2       vô sắc
7. Viễn cảm tinh thần ………………. thứ 1       tướng
Bồ đề…                                 
1. Thấu hiểu (comprehension)…….. thứ 7
2. Hàn gắn (healing) ……………….. thứ 6
3. Huệ nhãn thông (Divine vision)… thứ 5
4. Trực giác …………………………. thứ 4
5. Chủ nghĩa lý tưởng (Idealism) … thứ 3
Niết bàn…(Atmic)
1. Toàn phúc ………………………… thứ 7
2. Phụng sự linh hoạt …………..….. thứ 6
3. Hiện thực …………………….…… thứ 5
4. Hoàn thiện ……………………..… thứ 4
5. Toàn tri (all knowledge) …………. thứ 3
* Cần ghi nhớ rằng chúng ta không tổng kết hai cõi trừu tượng trên cõi Niết BànBồ đề, lý do là vì chúng đánh dấu một trình độ nhận thức, vốn là điều sở đắc của các điểm đạo đồ ở cấp bậc cao hơn cấp bậc của Chân Sư, và vượt quá quan niệm của mẫu người tiến hoá đang là đối tượng của Bộ luận này.

+ NĂM CẤP ĐỘ CỦA 5 GIÁC QUAN TƯƠNG ỨNG VỚI CÁC CÕI

Với mục đích làm sáng tỏ, chúng ta có thể nêu lên ở đây biểu đồ về năm trạng thái khác nhau của 5 giác quan trên năm cõi, để cho các tương đồng của chúng có thể sẵn sàng hình dung được bằng cách dùng bảng trên làm cơ sở (LVLCK, 189):
a. Giác quan thứ nhất … Thính giác
1. Thính giác hồng trần
2. Nhĩ thông
3. Nhĩ thông cao
4. Sự lĩnh hội đối với bốn âm thanh
5. Toàn phúc

b. Giác quan thứ 2 …………. Xúc giác hay cảm giác
1. Xúc giác hồng trần
2. Trắc lượng tâm lý
3. Trắc lượng tâm lý hành tinh
4. Hàn gắn (healing)
5. Phụng sự linh hoạt (active service)

c. Giác quan thứ 3…………. Thị giác (Sight)
1. Thị giác hồng trần
2. Nhãn thông.
3. Nhãn thông cao
4. Huệ nhãn thông (Divine vision)
5. Nhận thức

d. Giác quan thứ 4…………. Vị giác
1. Vị giác hồng trần
2. Trí tưởng tượng
3. Phân biện
4. Trực giác
5. Hoàn thiện

e. Giác quan thứ 5…………. Khứu giác
1. Khứu giác hồng trần
2. Lý tưởng xúc cảm
3. Nhận thức tinh thần
4. Chủ nghĩa lý tưởng
5. Toàn tri

GIỜ CHÚNG TA ĐI VÀO CHI TIẾT CÁC GIÁC QUAN (Xem chi tiết tại LVLCK, tr 190):

I- THÍNH GIÂC (LVLCK, 190)

Bí quyết đối với con người là khám phá và trở lại liên hệ chính nó với sự tiết lộ về bí nhiệm của:
a. Chính âm thanh của y
b. Âm thanh của huynh đệ y
c. Âm thanh của nhóm y
d. Âm thanh của một trong các Hành Tinh Thượng Đế mà y có liên hệ với Ngài.
e. Âm thanh của Thượng Đế, hay âm thanh của thiên nhiên, của Thái dương hệ của Thái Dương Thượng Đế.

Do đó, chúng ta ghi nhận rằng trên cõi trần, con người phải tìm ra chính nốt của mình, phải tìm nốt đó dù cho hình hài có trọng trược đến đâu.
a. Trên cõi trần, con người đang tìm kiếm nốt của riêng mình.
b. Trên cõi cảm dục, con người đang tìm kiếm nốt của huynh đệ y, qua sự tương đồng về cảm xúc, con người tiến đến chỗ nhận được sự tương đồng của huynh đệ y.
c. Trên cõi trí, y đang bắt đầu tìm được nốt của nhóm y.
d. Trên cõi Bồ đề hay cõi minh triết, con người bắt đầu tìm thấy nốt của Hành Tinh Thượng Đế của y.
e. Trên cõi Niết bàn hay cõi Tinh Thần, nốt của Thượng Đế bắt đầu ngân lên trong tâm thức y.
Tôi phân tích như thế với mục đích làm sáng tỏ

+ Trong sự tiến hoá của các giác quan, thính giác là cái gì mơ hồ nhất, nó gợi sự chú ý của bản ngã không sáng suốt bên ngoài.(LVLVK, 196)
a. Đối với rung động khác.
b. Đối với những gì phát xuất từ bên ngoài chính nó.
c. Đối với ý niệm về cái bên ngoài (externality). Khi âm thanh được tiếp xúc trước nhất, tâm thức lần đầu tiên trở nên biết được những gì bên ngoài.

II- XÚC GIÁC (LVLCK, 193)

Khi đề cập đến vấn đề giác quan thứ hai, tức xúc giác, chúng ta phải ghi nhớ rằng giác quan này là giác quan rất quan trọng, vượt trên các giác quan khác trong Thái dương hệ thứ hai này – tức Thái dương hệ của tâm thức cảm dục tuệ giác (Tâm thức cảm dục tuệ giác (astral–buddhic consciousness) là thuật ngữ được dùng cho tâm thức cơ bản trong Thái dương hệ chúng ta. Nó được tiêu biểu bằng sự cảm xúc (emotion), bằng sự nhạy cảm (by feeling), cảm giác, mà sau rốt phải được biến đổi thành trực giác, tri giác tâm linh (spiritual perception) và hợp nhất)

Mỗi một trong các giác quan này, sau khi đạt đến một trình độ nào đó, bắt đầu tổng hợp với các giác quan khác bằng một cách hầu như không thể biết được nơi bắt đầu và nơi kết thúc. Xúc giác là sự nhận thức bằng cách tiếp xúc qua sự luyện tập của trí tuệ theo ba cách :
– Dưới hình thức nhận thức (recognition)
– Dưới hình thức trí nhớ (memory)
– Dưới hình thức tiên đoán (anticipation)

+ Bấy giờ Chủ Thể Suy Tưởng có thể hiệu chỉnh mối liên giao của mình vào đó. (LVLCK, 194)

1. Thính giác đem lại cho y một ý tưởng về phương hướng tương đối và giúp cho một người xác định vị trí mình trong cơ tiến hoá và định hướng cho chính mình.
2. Xúc giác đem lại cho y một ý tưởng về số lượng tương đối và cho phép y xác định giá trị tương đối có liên quan đến các thể khác bên ngoài chính y.
3. Thị giác đem lại cho y ý tưởng về sự cân xứng và cho phép y hiệu chỉnh cử động của y so với cử động của các kẻ khác.
4. Vị giác đem lại cho y ý tưởng về giá trị, cho phép y xác định trên đó những gì đối với y có vẻ tốt nhất.
5. Khứu giác mang lại cho y ý tưởng về tính chất nội tại cho phép y tìm thấy những gì hấp dẫn y như thể cùng tính chất hoặc bản thể như chính y.

Trong tất cả các định nghĩa này, cần phải nhớ rằng toàn bộ vấn đề về giác quan là tiết lộ phi ngã và nhờ đó cho phép Bản ngã phân biện giữa thực và hư (1).

* Ghi chú (1) – LVLCK, 195: Các cảm giác được khơi dậy bằng các đối tượng của giác quan được kinh qua bằng các dụng cụ bên ngoài của Vị Chúa của Thể (Lord of the Body) hay là các giác quan (Indriya) vốn là các đường lối mà qua đó Chân Thần nhập thế (Jiva) thu nhận kinh nghiệm trần gian.

Có 10 giác quan gồm hai loại:
a. 5 cơ quan cảm giác ………………………….. Jnanendriya
1. Tai ………………………………………….. Thính giác
2. Da ……………………………………………. Cảm nhận bằng xúc giác
3. Mắt …………………………………………. Thị giác
4. Lưỡi ………………………………………… Vị giác
5. Mũi ………………………………………… Khứu giác
b. 5 cơ quan hành động ……………………….. Karmendriya
1. Miệng ……………………………………. Nói
2. Tay ……………………………………….. Nắm
3. Chân ……………………………………… Đi
4. Hậu môn ………………………………… Bài tiết
5. Bộ phận sinh dục …………………… Sinh sản

Các cơ quan cảm giác là sự đáp ứng trở lại những gì mà Bản ngã cảm nhận. Các cơ quan hành động là những cơ quan mà qua đó hiệu quả được mang lại cho các ước muốn của Jiva. “Indriya hay giác quan không phải là cơ quan vật chất mà là khả năng của trí tuệ tác động xuyên qua cơ quan đó như là khí cụ của nó. Các cơ quan bên ngoài giác quan này là các phương tiện thông thường nhờ đó trên cõi trần, các chức năng nghe v.v.. được hoàn thành. Nhưng vì chúng chỉ là các dụng cụ và sức mạnh của chúng phát xuất từ thể trí, nên một vị yogithể hoàn thành chỉ bằng thể trí tất cả những gì có thể làm được bằng các cơ quan vật chất này mà không dùng đến cơ quan vật chất… [“Chúng ta có thể làm đổ cái ly chỉ bằng sức mạnh của ý chí mà không đụng tới cái ly. Quả thật một người quen của tôi (Ông Leadbeater) đã từng thí nghiệm điều này và đã thành công”. Trích “Chơn Sư và Thánh Đạo” quyển I, trang 105. ND]

+ Ba giác quan chính này (tôi tạm mô tả như thế) kết hợp nhau rất rõ ràng, mỗi giác quan với một trong Ba Ngôi Thượng Đế (LVLCK, 197):
1. Thính giác – Nhận thức được ngôn từ tứ phân, hoạt động của vật chất, Thượng Đế Ngôi Ba.
2. Xúc giác – Nhận thức được Đấng Kiến Tạo Hình Hài thất phân, tụ tập lại các hình hài, sự tiếp cận và quan hệ hỗ tương của chúng, Thượng Đế Ngôi Hai. Định luật Thu Hút giữa Ngã với phi ngã bắt đầu tác động.
3. Thị giác – Nhận ra được tính chất toàn thể, tổng hợp của tất cả, hiểu được Đấng Duy Nhất trong Muôn Loài, Thượng đế Ngôi Một. Định Luật Tổng Hợp, đang tác động giữa mọi hình hài mà bản ngã đang chiếm hữu và nhận ra được tính duy nhất cốt yếu của mọi biểu lộ nhờ vào thị giác.
Về phần vị giác và khứu giác, chúng ta có thể gọi chúng là các giác quan thứ yếu, vì chúng được kết hợp chặt chẽ với giác quan trọng yếu là xúc giác. Thực sự chúng phụ thuộc cho giác quan này. Giác quan thứ hai này và mối liên hệ của nó với Thái dương hệ thứ 2 nên được thận trọng nghiền ngẫm. Đó là giác quan có ưu thế liên hệ chặt chẽ nhất với Thượng Đế Ngôi Hai.

+ Tóm lược giác quan (LVLCK, 189)

Thị giác: Như đã nói ở trước, giác quan này là giác quan liên hệ tối thượng của Thái dương hệ.
– Dưới định luật Tiết Kiệm, con người nghe được. Âm thanh thấu nhập vật chất và là căn bản của tính không đồng nhất tiếp theo sau của nó.
– Dưới Định Luật Hút, con người đụng chạm và tiếp xúc với những gì thu hút sự chú ý của y xuyên qua các làn sóng hoạt động của âm thanh. Điều này đưa đến một tình trạng đẩy và hút lẫn nhau giữa Chủ Thể tri giác và những gì được tri giác.

III- THỊ GIÁC (LVLCK, 198)

c. Thị giác: Như đã nói ở trước, giác quan này là giác quan tương quan tối thượng của Thái dương hệ.
Con người ghe được nhờ ảnh hưởng của Định Luật Tương Tác Hài Hòa (Law of Economy), con người nghe được. Âm thanh thấu nhập vật chất và là căn bản của tính không đồng nhất tiếp theo sau của nó.
Nhờ ảnh hưởng của Định Luật Hút, con người đụng chạm và tiếp xúc với những gì thu hút sự chú ý của y xuyên qua các làn sóng hoạt động của âm thanh. Điều này đưa đến một tình trạng đẩy và hút lẫn nhau giữa Chủ Thể tri giác và những gì được tri giác.

* Nhờ tri giác và kế đó là tiếp xúc, tầm mắt y được mở rộng và y nhận ra được vị trí của mình trong toàn thể trật tự dưới Định luật Tổng Hợp.

– Thính giác  ……..    Nhất nguyên (Unity)
– Xúc giác      ………. Nhị nguyên (Duality)
Thị giác       …….    Tam nguyên (Triplicity)

+ VỀ QUY LUẬT TIẾN HÓA (LVLCK, 200)
– Giáng hạ tiến hoá. Sự phân ly của vật chất, hay cái đơn nhất trở thành cái đa tạp. Các giác quan được phát triển, bộ máy được Bản Ngã làm cho hoàn thiện cho việc vận dụng vật chất. Điều này xảy ra dưới Định Luật Tương Tác Hài Hòa (Law of Economy),
Thăng thượng tiến hoá. Cho đến lúc ở trên đường đệ tử dự bị. Sự hoà nhập Tinh ThầnVật Chất, và việc vận dụng các giác quan trong một sự đồng nhất hoá luỹ tiến của Bản ngã với mọi hình hài từ cái thấp nhất đến những hình hài tương đối được thanh lọc. Điều này xảy ra dưới Định luật Hút.
Thăng thượng tiến hoá trên Thánh đạo. Tinh thần lại tách ra khỏi vật chất, tinh thần đồng hoá với Đấng Duy Nhất và sau đó là sự loại bỏ sắc tướng. Lúc bấy giờ các giác quan được tổng hợp thành khả năng hoạch đắc, còn Bản Ngã không còn hữu dụng thêm nữa cho phi ngã. Nó phối hợp với Toàn Ngã (All-Self). Điều này xảy ra dưới Định Luật Tổng Hợp.

+ Sử dụng thuật ngữ THỊ GIÁC (LVLCK, 200): Khi giác quan thứ ba, tức thị giác, tiến đến chỗ hoàn thiện cuối cùng, thuật ngữ được dùng là thuật ngữ hoàn toàn không thích hợp, đó là sự nhận thức (realisation). Đạo sinh hãy nghiên cứu kỹ càng sự biểu lộ thấp nhất và cao nhất của các giác quan như đã được nêu ra trong bảng trước đây và ghi nhận ý nghĩa huyền bí của các diễn đạt được dùng trong phần tổng kết.
– Thính giác….. Sự chí phúc. Điều này được thực hiện qua phi ngã.
– Xúc giác …… Phụng sự. Tổng kết công việc của Bản Ngã đối với phi ngã.
Thị giác ……..Sự Nhận thức. Nhận biết về bộ ba cần trong biểu lộ hay tác động phản tỉnh của bản ngã và phi ngã.
– Vị giác ……    Sự Hoàn thiện. Tiến hoá hoàn thành thông qua việc sử dụng phi ngã và sự tương xứng được thực hiện của nó.
– Khứu giác…. Kiến thức hoàn hảo. Nguyên khí trí tuệ trong hoạt động phân biệt của nó, hoàn thiện việc liên quan hỗ tương giữa Ngã với phi ngã.
Tất cả mọi điều này có liên hệ đến phàm ngã hoàn thiện đã được nhận thức (LVLCK, 200)

IV- VỊ GIÁC  (LVLCK, 202)

Rồi cuối cùng Y nếm và phân biện, vì vị giác giác quan trọng yếu bắt đầu nắm quyền thống trị trong tiến trình phân biện vốn xảy ra vào lúc mà bản chất hư huyễn của vật chất dần dần được nhận ra. Sự phân biện là diễn biến có tính cách giáo dục mà chính Bản Ngã lệ thuộc vào trong lúc mở trực giác – loại quan năng mà nhờ đó Bản Ngã nhận ra được bản thể riêng của nó ở trong và dưới mọi hình thể. Sự phân biện liên quan đến nhị nguyên tính của bản chất, Bản Ngã và phi ngã, và là phương tiện phân biệt của chúng trong tiến trình trừu xuất; trực giác liên hệ đến sự hợp nhất và là khả năng của Bản Ngã để tiếp xúc với các Bản Ngã khác, và không phải là một quan năng mà nhờ đó phi ngã được tiếp xúc. Do đó, ít có được trực giác vào lúc này, do bởi sự biệt ngã hoá mạnh mẽ của Chân ngã và sự đánh đồng của Chân ngã với hình hài – một sự đánh đồng cần thiết vào thời điểm đặc biệt này. Vì vị giác trên các cõi cao được phát triển, nó đưa đến một trong các dị biệt tế nhị hơn bao giờ, mà cho đến nay điều đó sau rốt, qua hình hài, đưa đến đúng tâm của bản chất con người.

IV- KHỨU GIÁC (LVLCK, 202)

Khứu giác là quan năng nhận thức bén nhạy mà sau rốt đưa con người về lại cội nguồn của mình, tức cõi nguyên hình ( ), cõi này mới là chỗ ở đích thực của con người. Một nhận thức về sự dị biệt được bồi đắp đã tạo nên một bất mãn thiêng liêng trong tâm của kẻ hành hương ở viễn xứ; đứa con đi hoang ( ) rút ra được các so sánh; y đã phát triển bốn giác quan khác và y vận dụng được chúng. Bây giờ đến quan năng nhận thức rung động đối với rung động quen thuộc (home vibration) nếu có thể diễn tả được như thế. Đó là đối phần tâm linh (spiritual counterpart) của loại giác quan, mà ở thú vật, bồ câu và các loại chim khác, giác quan đó hướng dẫn chúng trở về đúng địa điểm quen thuộc mà nơi đó chúng đã đến lúc đầu. Đó là việc hiểu được rung động của Bản Ngã và việc quay về nhanh chóng nhờ loại bản năng đưa đến cội nguồn ban đầu.

…… Các sự kiện sau đây cũng phải được ghi nhớ khi nghiên cứu về vật chất :

a. Đó là các giác quan đã được bàn đến trong đoạn này của quyển Luận Về Lửa Càn Khôn vì chúng có liên hệ đến hình hài vật chất. Nó đúng ra, 5 giác quan, theo như chúng ta biết, là các phương tiện tiếp xúc được thiết lập bởi Chủ Thể Suy Tưởng (đã an trú vào thể dĩ thái của y) và tìm được biểu lộ của chúng trong hình hài vật chất ở các trung tâm thần kinh, các tế bào não, các trung khu thần kinh (ganglia) và đám rối (plexus) mà khoa học ngoại môn nhận biết được.

b. Đó là các giác quan dùng cho tất cả các mục đích biểu lộ hiện nay, điểm tập trung của chúng ở trên cõi cảm dục và do đó chủ yếu là ở dưới tác động kích thích của đan điền – điểm tập trung lớn đó ở trung tâm thể vốn là tác nhân kích thích đối với hầu hết gia đình nhân loại vào lúc này.

c. Vì lẽ tam giác cao bắt đầu phát huy tác dụng và sự an trụ tiến tới các bí huyệt cao, nên các giác quan bắt đầu làm cho chính chúng được cảm nhận ở trên cõi trícon người bắt đầu có tri giác trên cõi đó. Trong thể con người, chúng ta có một phản ảnh đáng chú ý về sự chuyển đổi sự an trụ từ Phàm ngã đến Chân ngã hay là vào tận linh hồn thể trong cách phân chia hiện có giữa cõi thượng trícõi hạ trí và đường phân chia của cách mô giữa phần trên và phần dưới của thể.

Dưới cách mô, chúng ta có 4 trung tâm lực thấp :
1 Đan điền
2 Lá lách
3 Cơ quan sinh sản
4 Đáy xương sống
Phía trên là 3 trung tâm lực cao:
1 Tim
2 Cổ họng
3 Đầu

Trong tiểu thiên địa, chúng ta có 4 thể thấp, (tứ hạ thể) tách biệt với Ba Thể Cao (Tam Thượng Thể) theo cùng một cách thức và sự tương đồng này cần được suy ngẫm. Do đó, bằng sự thận trọng trong tư tưởng, chúng ta có thể tạo nên tác động phản xạ của các trung tâm lực và các giác quan theo quan điểm các cõi khác nhau, nên nhớ rằng khi các trung tâm lực được khơi hoạt, tiến trình diễn ra theo ba giai đoạn :
Thứ nhất: Giai đoạn khơi hoạt trên cõi trần và các trung tâm lực từ từ tăng gia hoạt động, cho đến khi đạt đến con đường Đệ tử Dự bị. Giai đoạn này diễn ra song song bằng việc tăng thêm sự hữu dụng của các giác quan và việc vận dụng thường xuyên các giác quan để nhận ra Chân ngã và các lớp vỏ của nó.
Thứ nhì. Giai đoạn thức tỉnh trên cõi cảm dục và hoạt động từ từ tăng lên của các trung tâm lực, cho đến khi đạt được Điểm Đạo thứ nhất. Điều này diễn ra song song bằng việc vận dụng các giác quan vô cùng bén nhạy cho các mục đích phân biệt giữa Ngã với phi ngã.
Thứ ba. Giai đoạn thức tỉnh trên cõi trí và sự tăng gia hoạt động dần dần của các trung tâm lực và các giác quan. Hiệu quả trong cả hai trường hợp đều đưa đến việc đồng nhất hoá của Bản Ngã với bản thể riêng của nó trong mọi nhóm và thải bỏ các lớp vỏ và các hình hài.

Sự phát triển này diễn ra song song trên hai cõi cao đồng thời cũng ở trong cõi thấp và vì các giác quan thuộc thể cảm dục bắt đầu hoạt động hoàn hảo, các trung tâm lực tương ứng trên cõi Bồ đề bắt đầu hoạt động cho đến khi sự tương tác về rung động giữa cả hai trở nên hoàn hảo, mãnh lực của Tam Thượng Thểthể được cảm nhận một cách rõ rệt trong phàm ngã xuyên qua thể cảm dục.
Theo quan điểm về luồng hoả (1), tạm thời không xét về hào quangmàu sắc của nó; sự phát triển tiến hoá cũng đánh dấu bằng một tiến trình cũng rõ ràng như thế.

Đến trang 204 – LVLCK

BẢNG THỐNG KÊ CÁC TƯƠNG ỨNG CỦA CÁC GIÁC QUAN

NguồnGhi Chú
STTĐỀ MỤCCÁC TƯƠNG ỨNG VỚI CÁC GIÁC QUANNguồn 
AMINH TRIẾT MỚI   
IGiác quanTHÍNH GIÁC – TAI – NGHEXÚC GIÁC – DA – CHẠMTHỊ GIÁC – NHÌN- MẮTVỊ GIÁC – LƯỠI – NẾM KHỨU GIÁC – MŨI – NGỬILVLCK, 187 
1Thứ tự tiến hóa1 (Chính yếu)2 (Chính yếu)3 (Chính yếu)4 (Thứ yếu)5 (Thứ yếu)LVLCK, 197 
2Hành – Giác quanAetherPhongHỏaThủyThổLVLCK, 185 
3Hành – CõiCõi Chân ThầnCõi Bồ ĐềCõi TríCõi Cảm dụcCõi trầnLVLCK, 185 
3.1Cõi phụ tương ứngHồng trầnCảm dụcTríBồ đềNiết bànLVLCK, 187Nghịch với 3
 
3.1??? 
IITrung tâm lực
1TTL thấp
2TTL cao
BĐÔNG PHƯƠNG
…….……………………..……………………………..……………………………….…………………………………………………………………….…………………………………………………..…………………

Tiếp theo …


PHẦN 2 – SÁCH LUẬN VỀ HUYỀN LINH THUẬT/ CHÁNH THUẬT

CẤU TẠO THỂ VÀ CÁC TƯƠNG ỨNG
GIỮA ĐẠI THIÊN ĐỊA VỚI TIỂU THIÊN ĐỊACON NGƯỜI

CÁC NHẬN XÉT DẪN NHẬP

+ CẤU TẠO CON NGƯỜI THEO LUẬN VỀ HUYỀN LINH THUẬT (LVHLT, 35)

1. Linh hồn, của đại thiên địatiểu thiên địa, của vũ trụcon người, là thực thể được tạo ra khi trạng thái tinh thầntrạng thái vật chất được liên kết với nhau.
a/ Do đó linh hồn không phải là tinh thần, cũng không phải là vật chất mà là mối quan hệ (relation) giữa cả hai.
b/ Linh hồn là chủ thể trung gian (mediator) giữa nhị nguyên tính này; nó là nguyên khí giữa, khoen nối giữa Thượng Đế với sắc tướng của Ngài.
c/ Do đó, linh hồn là một tên gọi khác để chỉ nguyên khí Christ, dù là trong thiên nhiên hoặc trong con người. (LVHLT, 35)

5. Tinh thần hay Chân Thần trước tiên là biểu hiện của ý chí, với bác ái và sự thông tuệ như là các nguyên khí phụ, còn bản thể con người, tức phàm ngã, được phân biệt trước tiên bằng sự thông tuệ, nhưng linh hồn, một cách rất đặc biệt, có tính chất bác ái vốn cũng thể hiện dưới hình thức minh triết khi sự thông tuệ của phàm ngã được hòa nhập với bác ái của linh hồn. Bảng sau đây có thể giúp làm cho ý tưởng rõ ràng hơn.
+ Chân Thần …….. Ý Chí …………. Mục Tiêu
– Ngôi Một ………. Ý Chí, giúp cho Chân Thần tham dự vào mục (1st Aspect) tiêu đại đồng (universal purpose).
– Ngôi Hai ……….. Bác Ái, năng lượng được tuôn đổ vào linh (2nd Aspect) hồn, làm cho linh hồn có bản chất riêng biệt.
– Ngôi Ba ………… Sự Thông Tuệ, được truyền qua linh hồn và (3rd Aspect) được đưa vào biểu lộ qua trung gian xác thân.

+ Linh Hồn ………. Bác Ái ………. Phương Pháp

– Ngôi Một …. Ý Chí, tạm thời chưa hoạt động nhưng tự biểu hiện qua trạng thái trí tuệ của phàm ngã và qua Kundalini, luồng hỏa này khi được đánh thức đúng đắn, sẽ làm cho các cuộc điểm đạo cuối cùng có thể đi vào tâm thức của Chân Thần.
– Ngôi Hai …. Bác Ái, thần lực chủ đạo của sự sống linh hồn; qua việc sở hữu này và loại năng lượng này, linh hồnthể đồng cảm với mọi linh hồn. Qua thể tình cảm, linh hồnthể tiếp xúc với mọi linh hồn động vật hay mọi linh hồn dưới nhân loại (animal or subhuman souls); qua hoạt động của linh hồn trên cõi riêng của nó, linh hồnthể tiếp xúc với các linh hồn của tất cả những người đang thiền định; và qua nguyên khí bồ đề, linh hồnthể tiếp xúc với trạng thái thứ hai của Chân Thần.
– Ngôi Ba …. Tri thức. Trạng thái này được đưa vào tiếp xúc với sự thông tuệ của mọi tế bào trong cơ cấu tam phân của thể.

* Nhờ nghiên cứu kỹ đoạn nói trên, sự việc trở nên rõ ràng là bằng cách nào linh hồn hoạt động như là tác nhân trung gian giữa Chân Thần với phàm ngã.
Phàm ngã che giấu trong chính nó, như cái hộp che giấu viên ngọc, điểm ánh sáng đó của linh hồn mà chúng ta gọi là ánh sáng trong đầu. Điểm này nằm bên trong não bộ, và chỉ được khám phá và sau đó được sử dụng khi trạng thái cao nhất của phàm ngã, tức thể trí, được phát triển và hoạt động.
Kế đó sự hợp nhất với linh hồn được thực hiện và linh hồn hoạt động qua bản chất phàm ngã.(LVHLT. 41)

+ CẤU TẠO VÀ SỰ TƯƠNG ỨNG CỦA CON NGƯỜI (LVHLT, 42 – 51)

c/ Phàm Ngã, Sự Xuất Hiện ở Cõi Hiện Tượng (The Body, the Phenomenal Appearance)
Không có nhiều điều cần thiết được viết ra ở đây về việc này, vì bản thể con người (phàm ngã) và khía cạnh sắc tướng đã là đối tượng sưu khảo và đề tài của tư tưởng và thảo luận của người biết suy tư từ nhiều thế kỷ. Nhiều điều mà họ đã đạt đến về căn bản là đúng. Nhà sưu khảo hiện đại sẽ thừa nhận Định Luật Tương Đồng như là nền tảng của các tiền đề, và đôi khi sẽ nhận ra lý thuyết Hermes cho rằng “Trên sao, dưới vậy” (“As above, so below”) có thể phóng chiếu nhiều ánh sáng lên các vấn đề hiện tại. Các định đề sau đây có thể dùng để minh giải:
1. Trong bản thể con người của mình, con người là một tổng thể (sum total), một sự thống nhất (a unity).
2. Cái tổng thể này được chia nhỏ thành nhiều phần và nhiều cơ quan.
3. Tuy thế nhiều tế phân này hoạt động theo một cách thức thống nhất và thể là một tổng thể được liên kết.
4. Mỗi một trong các phần của nó khác nhau về hình thể và về chức năng, nhưng tất cả đều tùy thuộc lẫn nhau.
5. Tuần tự, mỗi phần và mỗi cơ quan được cấu tạo bởi các phân tử, các tế bào và các nguyên tử, tất cả được giữ chung lại với nhau dưới hình thức của một thể bởi sự sống của tổng thể.

6. Cái tổng thể con người chia 5 phần, một số có tính quan trọng hơn một số khác, nhưng tất cả đều làm cho toàn vẹn thể sống động = Một con người.
a/ Đầu.
b/ Thân trên (upper torso), hay là phần nằm trên cách mô (diaphragm, cơ hoành).
c/ Thân dưới (lower torso) hay là phần nằm bên dưới cách mô.
d/ Tay.
e/ Chân.
7. Các cơ cấu này dùng cho các mục đích khác nhau, và sự tiện lợi của tổng thể (whole) tùy thuộc vào sự vận hành đúng đắn và sự hiệu chỉnh thích hợp của chúng.
8. Mỗi một trong các cơ cấu này đều có sự sống riêng của nó, vốn là toàn bộ sự sống của cấu trúc nguyên tử của nó, và cũng được làm cho sinh động bởi sự sống thống nhất của tổng thể, được điều khiển từ đầu bằng ý chí hay năng lượng thông tuệ của chân nhân (spiritual man).
9. Phần quan trọng của thể chính là bộ phận gồm ba phần, tức là đầu, thân trên và thân dưới. Con ngườithể hoạt động và sống mà không có tay và chân.
10. Mỗi một trong ba phần này cũng chia làm ba theo khía cạnh vật chất, tạo ra sự tương đồng với ba phần của bản chất con người và chín phần của sự sống hoàn thiện của Chân Thần. Có các cơ quan khác, nhưng các cơ quan được liệt kê này là các cơ quan có một ý nghĩa huyền bí có giá trị lớn hơn các phần khác.
a/ Bên trong đầu là:
– Năm não thất (five ventricles of the brain) hay là cái mà chúng ta có thể gọi là não bộ, như là một cơ quan thống nhất.
– Ba tuyến (glandes), gồm tuyến động mạch cảnh (carotid), tuyến tùng quả (pineal) và tuyến yên (pituitary).
– Hai mắt.
b/ Trong thân trên là:
– Cổ họng.
– Hai phổi.
– Tim.
c/ Trong thân dưới có:
– Lá lách.
– Bao tử.
– Các cơ quan sinh dục.

11. Toàn bộ thể cũng có ba phần:
a/ Da và cấu trúc xương.
b/ Mạch máu hay hệ tuần hoàn.
c/ Hệ thần kinh tam phân.

12. Mỗi một trong các tam bộ này tương ứng với ba phần của bản chất con người:
a/ Bản chất vật chất (physical nature): da và cấu trúc xương là sự tương đồng với nhục thân và thể dĩ thái của con người.
b/ Bản chất linh hồn (soul nature): Các mạch máu và hệ tuần hoàn là sự tương đồng với cái linh hồn lan tỏa khắp nơi đó, linh hồn đó xâm nhập vào mọi phần của thái-dương hệ, như máu đi đến mọi phần của thể.
c/ Bản chất tinh thần (spirit nature): Hệ thần kinh, vì nó truyền năng lượng và tác động khắp con người vật chất, là sự tương ứng với năng lượng của tinh thần.

13. Trong đầu, chúng ta có sự tương đồng với trạng thái tinh thần, tức là ý chí điều khiển, Chân Thần, Đấng Duy Nhất:
a/ Bộ óc với năm não thất của nó là sự tương đồng với hình hài vật chất, mà tinh thần làm sinh động liên quan với con người, cái toàn bộ gồm năm phần đó vốn là phương tiện mà qua đó tinh thần phải tự biểu lộ trên cõi trần.
b/ Ba tuyến ở trong đầu có liên quan mật thiết với linh hồn hay bản chất tâm linh (psychic nature) (cao và thấp).
c/ Hai mắt là các tương ứng thuộc cõi trần với Chân Thần, mà Chân Thần lại là ý chíbác áiminh triết hay là atma-buddhi, theo thuật ngữ huyền linh học.

14. Trong thân trên (upper body) chúng ta có một tương đồng với bản chất linh hồn tam phân.
a/ Cổ họng (throat), tương ứng với trạng thái sáng tạo thứ ba hay là bản thể con người, sự thông tuệ linh hoạt của linh hồn.
b/ Tim, bác ái-minh triết của linh hồn, thể bồ đề (buddhi) hay nguyên khí Christ.
c/ Hai lá phổi, tương đồng với hơi thở của sự sống, là sự tương ứng của tinh thần.

15. Trong thân dưới, chúng ta lại có hệ thống tam bộ này được thể hiện:
a/ Các cơ quan tính dục, khía cạnh sáng tạo, tác nhân tạo ra thân thể.
b/ Bao tử, với vai trò là biểu lộ hồng trần của bí huyệt đan điền (solar plexus), là sự tương đồng với bản chất linh hồn.
c/ Lá lách, nơi nhận năng lượng và do đó là biểu hiện ở cõi trần của trung tâm lực đang nhận năng lượng này, là sự tương đồng với tinh thần truyền năng lượng.

+ Thể sinh lực (vital body) là sự biểu lộ của năng lượng linh hồn và có chức năng sau:
1. Nó hợp nhất và liên kết toàn thể mọi hình tướng thành một tổng thể.
2. Nó cung cấp cho mỗi hình tướng tính chất riêng biệt của hình tướng đó, và điều này là do bởi:
a/ Loại vật chất được cuốn hút vào phần cụ thể đó của mạng lưới sự sống (web of life, sinh-võng).
b/ Vị trí (position) trong thể của Hành Tinh Thượng Đế, chẳng hạn, của một hình hài đặc biệt nào đó.
c/ Giới cụ thể (particular kingdom) trong thiên nhiên đang được truyền sinh khí.

3. Đó là nguyên khí hội nhập và là lực biểu lộ cố kết, theo ý nghĩa hoàn toàn vật chất.
4. Mạng lưới sự sống này là sự tương đồng về mặt chủ quan đối với hệ thần kinh, và những kẻ bắt đầu tiến vào các khoa học nội mônthể, nếu họ nhớ điều này, hình dung cho chính họ một mạng lưới thần kinh và đám rối (plexus, tùng, đám rối, búi) chạy khắp toàn bộ thể, hay là toàn bộ mọi hình hài, phối hợp và liên kết, và tạo ra một sự hợp nhất cơ bản.
5. Bên trong sự hợp nhất đó là sự đa dạng. Giống như các cơ quan khác nhau của thể con người được liên kết với nhau bằng sự phân nhánh của hệ thần kinh, cũng thế, bên trong thể của Hành Tinh Thượng Đếcác giới khác nhau trong thiên nhiên và vô số các hình hài. Đàng sau vũ trụ khách quan là thể nhạy cảm tinh anh hơn – một cơ cấu, không phải nhiều, một hình tướng có tính cảm thụ, đáp ứng, liên kết chặt chẽ với nhau.
6. Hình hài nhạy cảm này không những chỉ là những gì đáp ứng với môi trường chung quanh, mà còn là tác nhân truyền chuyển (từ các cội nguồn bên trong) một vài loại năng lượng, và mục tiêu của Bộ Luận có thể được trình bày ở đây, là nhằm cứu xét các loại năng lượng khác nhau được truyền đến hình hài trong giới nhân loại, sự đáp ứng của hình hài đối với các loại thần lực, các ảnh hưởng của lực đó lên con người, và sự đáp ứng dần của y đối với lực đang phát ra:
a/ Từ môi trường chung quanh của y, cộng với thể xác bên ngoài của riêng y.
b/ Từ cõi tình cảm, hay lực cảm dục.
c/ Cõi trí hay các luồng tư tưởng.
d/ Lực của Chân Ngã (Egoic force), một mãnh lực chỉ được con người nhận ra, và giới thứ tư trong thiên nhiên là tác nhân bảo quản của nó, và lực đó cũng có các ảnh hưởng huyền bí và đặc thù.
e/ Loại năng lượng vốn tạo ra ra sự gắn kết (concretion) các ý tưởng trên cõi trần.
f/ Năng lượng hoàn toàn có tính chất tâm linh, hay thần lực từ cõi của Chân Thần.

Tất cả các loại lực khác nhau này có thể được biểu lộ trong giới nhân loại. Một số các lực đó có thể được biểu lộ trong các giới dưới nhân loại, và bộ máy của thể sinh lực trong con người được cấu tạo, sao cho thông qua ba biểu lộ ra ngoại cảnh của nó, hệ thần kinh tam phân, qua bảy đám rối chính (major plexi, các trung tâm lực chính), các hạch thần kinh (nerve ganglia) thứ yếu và hàng ngàn dây thần kinh, tức toàn bộ con người ngoại cảnh có thể đáp ứng với:
a/ Các loại thần lực được nói đến ở trên.
b/ Các năng lượng được tạo ra ở trong và phát ra từ bất cứ phần nào của lưới sự sống bằng chất dĩ thái của hành tinh.
c/ Lưới sự sống của thái dương (solar web of life).
d/ Các chòm sao của Hoàng Đạo, chúng tỏ ra có một ảnh hưởng thực sự trên hành tinh chúng ta mà cho đến nay, chiêm tinh học là sự nghiên cứu còn non nớt về chúng.
e/ Một vài vũ trụ lực, vốn sẽ được nhận biết sau này, đang tác động lên và tạo ra các thay đổi trong thái-dương-hệ chúng ta, và tất nhiên trên hành tinh chúng ta, và trên mọi hình hài bên trên và bên trong sự sống hành tinh đó. Điều này đã được đề cập đến trong “Luận Về Lửa Càn Khôn”.
Lưới sự sống hành tinh đáp ứng với tất cả các lực này, và, khi các chiêm tinh gia hoạt động theo con đường huyền linh và xem xét lá số tử vi hành tinh, họ sẽ đạt đến một sự hiểu biết nhanh chóng hơn về các ảnh hưởng của Hoàng Đạo và vũ trụ.

+ Linh Hồn Thế Giới (Anima mundi): Là những gì nằm đàng sau lưới sự sống. Lưới sự sống chỉ là biểu tượng vật chất của linh hồn đại đồng (universal soul) đó; đó là dấu hiệu bên ngoài và hữu hình của thực tại bên trong, sự cụ thể hóa của thực thể đáp ứng nhạy bén đang liên kết tinh thầnvật chất lại với nhau. Chúng ta gọi thực thể này là Linh Hồn Đại Đồng (Universal Soul), tức nguyên khí trung gian theo quan điểm của sự sống hành tinh.

* Khi chúng ta thu hẹp ý niệm xuống đến gia đình nhân loại, và xem xét con ngườibiệt, chúng ta gọi nó là nguyên khí trung gian, vì linh hồn của nhân loại không chỉ là một thực thể liên kết tinh thần với vật chất, và làm trung gian (mediate) giữa Chân Thần với phàm ngã, mà linh hồn nhân loại còn có một chức năng độc đáo là thực hiện vai trò trung gian giữa ba giới cao trong thiên nhiên với ba giới thấp. Ba giới cao là:

1. Huyền Giai Tinh thần (Spiritual Hierarchy) của hành tinh chúng ta, các tinh linh thiên nhiên (nature spirits, tinh linh ngũ hành) hay là các thiên thần (angels), và các tinh thần con người (human spirits), đang đứng ở một điểm đặc biệt trên thang tiến hóa. Trong số các vị này, Đức Sanat Kumara (Đức Ngọc Đế), hiện thân cho một nguyên khí của Hành Tinh Thượng Đế, ở vị trí cao nhất, và một điểm đạo đồ cấp thứ nhất ở vị trí thấp nhất, cùng với các thực thể tương ứng trong giới mà chúng ta gọi là giới thiên thần (angel or deva kingdom).
2. Huyền Giai của các Cung – một số tập hợp của bảy cung có liên quan với hành tinh chúng ta.
3. Một Huyền Giai các Đấng Cao Cả, được tập hợp lại bởi một diễn trình tiến hóa, bắt nguồn từ sự tiến hóa hành tinh chúng ta và từ bốn hành tinh khác, các Ngài tiêu biểu trong chính các Ngài mục tiêu và kế hoạch của Thái Dương Thượng Đế liên quan với 5 hành tinh có liên can.

Biểu tượng lớn của linh hồn trong con ngườithể sinh lực hay thể dĩ thái của y, và vì các lý do sau đây:
1. Đó là tương ứng vật chất đối với thể ánh sáng bên trong (inner light body) mà chúng ta gọi là thể linh hồn (soul body) tức thể tinh thần (spiritual body). Nó được gọi là “chén vàng (“golden bowl”) trong Thánh Kinh (Bible) và được nhận ra bởi:
a/ Tính chất ánh sáng của nó.
b/ Tốc độ rung động của nó, tốc độ này luôn luôn đồng bộ với sự phát triển của linh hồn.
c/ Lực cố kết của nó, đang liên kết và kết nối mọi phần của cấu trúc thể.

2. Đó là “mạng lưới sự sống” (“web of life”) của tiểu thiên địa vì nó nằm dưới mọi phần của cấu trúc vật chất và có ba mục tiêu:
a/ Truyền nguyên khí sự sống, năng lượng vốn tạo ra hoạt động, đi khắp thể. Nó làm được điều này nhờ dòng máu, điểm tập trung cho sự phân phối này là tim. Đó là tác nhân vận chuyển sinh lực cho thể xác.
b/ Làm cho linh hồn, hay con người, chưa phải là con người tâm linh, đồng cảm với môi trường chung quanh của y. Việc này được tiến triển qua trung gian của toàn bộ hệ thần kinh, điểm tập trung của hoạt động đó là não bộ. Đây là trung tâm của sự tiếp nhận hữu thức.
c/ Sau rốt, qua sự sống và tâm thức, tạo ra một hoạt động tỏa chiếu, tức là sự biểu lộ của vinh quang, vốn sẽ làm cho mỗi người thành một trung tâm hoạt động để phân phối ánh sáng và năng lượng thu hút đến những kẻ khác trong giới nhân loại, và qua giới nhân loại, đến các giới dưới nhân loại. Đây là một phần của kế hoạch của Hành Tinh Thượng Đế để truyền sinh lựcphục hồi lại rung động của các hình hài mà chúng ta gọi là dưới nhân loại.

3. Biểu tượng tiểu thiên địa này của linh hồn chẳng những nằm dưới toàn bộ cấu trúc vật chất, và như thế là một biểu tượng của anima mundi, hay là linh hồn thế giới (world soul), mà còn là một thực thể thống nhất, cố kết và không thể phân chia được, do đó tượng trưng cho sự thống nhất (unity) và sự thuần trạng (homogeneity) của Thượng Đế. Không có các cơ cấu riêng biệt trong đó, mà chỉ là một thểthần lực đang tuôn chảy tự do, thần lực đó chính là một sự phối hợp hay sự hợp nhất của hai loại năng lượng với số lượng thay đổi, năng lượng năng động và năng lượng thu hút hay từ lực. Hai loại năng lượng này cũng tiêu biểu cho linh hồn đại đồng – thần lực của ý chí, và của bác ái, hay của atmabuddhi, và chính sự tác động của hai lực này lên vật chất mới thu hút vào thể dĩ thái của mọi hình hài các nguyên tử vật chất cần thiết, và – khi đã thu hút chúng như thế − bằng mãnh lực của ý chí, thôi thúc chúng vào một số hoạt động.

4. Thể ánh sángnăng lượng cố-kết, thống-nhất này là biểu tượng của linh hồn, nơi đó nó có bên trong nó bảy điểm tập trung, mà trong đó sự ngưng tụ (condensation), nếu nó phải được gọi thế, của hai năng lượng phối hợp được tăng cường. Các điểm tập trung này tương ứng với bảy điểm tập trung trong thái-dương-hệ, trong đó Thái Dương Thượng Đế, thông qua bảy Hành Tinh Thượng Đế, tập trung các năng lượng của Ngài. Điều này sẽ được thảo luận chi tiết sau. Điểm cần được lưu ý ở đây chỉ là bản chất có tính chất biểu tượng của thể dĩ-thái hay thể sinh-lực, vì chính bằng việc tìm hiểu bản chất của các năng lượng được hiển lộ, và bản chất thống nhất của hình tướng và sự hoạt động, mà một ý tưởng nào đó về hoạt động của linh hồn, tức nguyên khí trung gian trong thiên nhiên, mới có thể được hiểu rõ.

5. Tính tượng trưng cũng được đưa ra khi người ta nhớ rằng thể dĩ thái liên kết thể xác thuần túy, tức nhục thân (dense body) với thể tinh anh thuần khiết, tức thể cảm dục hoặc thể tình cảm (the astral or emotional body). Trong thể này, người ta thấy hình ảnh (reflection) của linh hồn trong con người liên kết ba cõi thấp (tương ứng với các trạng thái đặc, lỏng và khí của thể thuần vật chất của con người) với các cõi cao trong thái-dương-hệ, như vậy liên kết cõi trí với cõi bồ đề và liên kết thể trí với các trạng thái trực giác của tâm thức. (LVHLT, 50)

Qui Luật Một

VÀI GIẢ THUYẾT CĂN BẢN

 

Qui Luật Ba

ÁNH SÁNG LINH HỒN VÀ ÁNH SÁNG THỂ XÁC

* CÁC CON ĐƯỜNG TIẾN HÓA CỦA MỘT NGƯỜI TÙY KHÍ CHẤT TRONG KIẾP SỐNG

+ Để trả lời một cách dứt khoát:
– Con đường tri thức là con đường của nhà huyền linh học và bậc hiền triết;
– Con đường bác ái là con đường của nhà thần bí và vị thánh.
=> Sự tiếp cận ở đầu hoặc ở tim không phụ thuộc vào cung, vì cả hai cách phải được hiểu biết; nhà thần bí phải trở thành nhà huyền linh học; nhà huyền linh học bên chính đạo (white occultist) đã là nhà thần bí thánh thiện (saintly mystic). Tri thức thực sự (true knowledge) là lòng bác ái sáng suốt, vì đó là sự phối hợp của trí tuệ (intellect) và lòng sùng đạo. Sự hợp nhất được cảm nhận nơi tim; việc ứng dụng nó sáng suốt vào đời sống phải được tiến hành thông qua tri thức.

=> Thật là vô cùng giá trị trong việc nhận ra xu hướng của mục đích cuộc đời, và trong việc biết liệu phương pháp thông qua đầu hoặc phương pháp thông qua tim là mục tiêu của một kiếp sống đặc biệt nào đó. Tuy nhiên, một khả năng phân biện tinh thần tinh tế thì cần thiết ở đây, để không bị sự cám dỗ của ảo giác lôi cuốn vào con đường trì trệ (inertia). Hãy nghiền ngẫm kỹ về những lời này, và hãy thấy rằng vấn đề dựa trên một nền tảng chân thật và không xuất phát từ một mặc cảm tự ti, việc để ý đến sự nghiệp của một huynh đệ và một xu hướng ghen ghét tất nhiên, hoặc dựa vào một sự tự mãn bình thản vốn phủ nhận sự hoạt động.(LVHLT, 120)

Qui Luật Bốn

Âm thanh, ánh sáng, sự rung động, và hình tướng phối hợp và hòa nhập; và như thế công việc hợp nhất. Nó diễn tiến theo thiên luật và giờ đây không gì có thể cản trở công việc đang xúc tiến. Con người hít thở sâu. Y tập trung các sức mạnh của mình lại và xua hình tư tưởng ra khỏi y.

1- Công Việc Sáng Tạo của Âm Thanh.

2- Khoa Học về Hơi Thở.

  1- CÔNG VIỆC SÁNG TẠO CỦA ÂM THANH

* ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÁC QUY LUẬT TRONG SÁCH NÀY (LVHLT, 125)

+ Các qui luật này không dành cho những người sơ cơ trong các ngành khoa học huyền bí; chúng được dành cho những người đã sẵn sàng cho công tác huyền thuật, và cho công việc khó khăn trên cõi trí.
Bác ái là tác nhân hợp nhất vĩ đại, xung lực thu hút hàng đầu, thuộc vũ trụtiểu thiên địa,
– Nhưng thể trínhân tố sáng tạo chính và là tác nhân vận dụng (utiliser) các năng lượng của vũ trụ.
Bác ái thu hút, còn thể trí thì thu hút, xô đẩy và kết hợp, cho nên tiềm năng của nó là không thể tưởng tượng được. Phải chăng không thể cảm nhận một cách mơ hồ một tình trạng của các sự việc trong các lĩnh vực trí tuệ, tương tự như tình trạng được thấy hiện nay trong lĩnh vực tình cảm hay sao?

2- KHOA HỌC VỀ HƠI THỞ (Trang 149)

Bây giờ chúng ta đi đến các từ quan trọng trong Qui Luật IV. Con người hít thở sâu”. Đây là một cụm từ bao gồm nhiều khía cạnh của cách sống nhịp nhàng. Đó là phương pháp kỳ diệu dành cho khoa học về kiểm soát sinh khí prana (Pranayama – sự điều khí). Nó bao hàm nghệ thuật của đời sống sáng tạo. Nó lôi cuốn một người vào sự hòa hợp với sự sống đang đập nhịp của chính Thượng Đế, và điều này nhờ vào tính dứt bỏ và sự tái định hướng (detachment and re- orientation).

Nó đặc biệt lý thú với tư cách là một sự thể hiện của tính súc tích (succinctness) và tính toàn diện của các cụm từ huyền bí như trong Qui Luật IV. Nghệ thuật thở được đề cập đến trong ba giai đoạn (phases), và Tôi giới thiệu ba giai đoạn này cho mỗi người trong các bạn để xem xét thật cẩn thận.

Đầu tiên có trạng thái Hít Vào (Inhalation). “Người hít thở sâu”. Từ tận nơi sâu nhất của bản thể (being) của y, y hít hơi thở vào. Trong diễn trình của đời sống hiện tượng, con người hít vào chính hơi thở của sự sống từ linh hồn. Đây là giai đoạn đầu tiên. Trong tiến trình tự tách mình ra khỏi đời sống hiện tượng, y rút sự sống từ nơi sâu nhất của bản thể của y, và trải nghiệm sự sống, để cho nó có thể được hoàn trả lại cho cội nguồn phát xuất của nó. Trong đời sống huyền linh của đệ tử, khi y phát triển một công dụng mới và tinh vi hơn của bộ máy đáp ứng của mình, đó là y thực tập khoa học về hơi thở, và phát hiện ra rằng nhờ việc thở sâu (bao gồm ba giai đoạn hơi thở sâu, giữa, và đỉnh – three stages of deep, middle and top breath), y có thể đưa thể sinh lực của y với các trung-tâm-lực của nó vào hoạt động trong thế giới của các kinh nghiệm nội môn. Như thế, ba trạng thái của “việc hít thở sâu” bao gồm toàn bộ sự trải nghiệm của linh hồn, và mối quan hệ với ba kiểu thở, được đề cập đến ở trên, có thể được thực hiện bởi người tìm đạo có quan tâm.

Tiếp theo chúng ta đọc thấy “y tập trung các lực của mình”. Ở đây chúng ta có giai đoạn được ngụ ý, vốn có thể được gọi là sự giữ lại hơi thở (retention of the breath). Nó là việc giữ lại tất cả các lực của sự sống một cách kiên trì ở chốn im lặng, và khi điều này có thể được thực hiện dễ dàng và với việc quên lảng tiến trình nhờ sự quen thuộc và kinh nghiệm, thì khi đó con ngườithể thấy, nghe và hiểu biết trong một lĩnh vực khác hơn thế giới hiện tượng. Theo ý nghĩa cao hơn thì đây là giai đoạn nhập định (contemplation), là giai đoạn “tạm lắng (lull) giữa hai hoạt động” như nó đã được gọi một cách thích hợp như vậy. Linh hồn, hơi thở, sự sống đã rút ra khỏi ba cõi thấp, và ở trong “chốn bí nhiệm của cõi cao thâm nhất”, trở nên thanh thản (at rest) và an bình (at peace), nhập định vào thị kiến phúc lạc (contemplating the beatific vision). Trong đời sống của vị đệ tử năng động, có những thời kỳ chuyển tiếp (interludes) được tạo ra mà mỗi đệ tử đều biết, khi mà (nhờ hạnh dứt bỏ và năng lực triệt thoái) y không còn bị bất cứ thứ gì trong thế giới sắc tướng nắm giữ. Trong khi y chỉ đang phấn đấu hướng về sự hoàn thiện và chưa đạt được, thì các khoảng thời gian tĩnh lặng, rút lui (withdrawingness) và không bị ràng buộc này thường thì khó khăn và đen tối. Mọi sự đều yên lặng và y trở nên kinh sợ bởi điều không được biết, và bởi cái có vẻ tĩnh mịch trống rỗng mà y đang ở trong đó. Trong các trường hợp tiến hóa thì sự kiện này được gọi là “đêm đen của linh hồn” – đó là khoảnh khắc trước lúc bình minh, giây phút trước khi ánh sáng tuôn tràn.

Trong khoa học về Thuật Điều Khí (Pranayama), đó là thời điểm đi theo với việc hít vào, trong đó tất cả các lực của thể (qua trung gian của hơi thở) được đưa lên đầu, và được tập trung ở đó trước khi đến giai đoạn thở ra. Thời điểm lưu giữ này, khi được tiến hành một cách thích hợp, tạo ra một khoảng thời gian tập trung mãnh liệt, và chính vào lúc này mà người tìm đạo phải nắm lấy cơ hội. Nơi đây có một gợi ý.

Rồi đến tiến trình thở ra (exhalation). Chúng ta đọc trong Qui Luật IV “y xua hình-tư-tưởng ra khỏi y”. Đây bao giờ cũng là kết quả của giai đoạn cuối cùng của khoa học về hơi thở. Hình-tư-tưởng đó, được truyền sinh khí (vitalized) bởi người hít thở đúng nhịp điệu, lại được gửi ra để thực hiện công việc của nó và hoàn thành nhiệm vụ của nó. Hãy nghiên cứu ý tưởng này một cách cẩn thận, vì nó nắm giữ bí mật của hoạt động sáng tạo.

Trong kinh nghiệm của linh hồn, hình thể cho sự biểu lộ trong ba cõi thấp được tạo ra nhờ sự thiền định mãnh liệt, nó bao giờ cũng là hoạt động song song của việc thở. Kế đó, bằng một tác động của ý chí dẫn đến việc “thở ra”, và được sinh ra hoặc được đạt đến một cách năng động trong thời gian chuyển tiếp (interlude) của sự nhập định hoặc lưu giữ hơi thở, hình thể tạo ra được đưa vào thế giới hiện tượng, để dùng như một đường truyền kinh nghiệm, một phương tiện biểu lộ và một bộ máy đáp ứng trong ba cõi thấp của đời sống con người.
Trong đời sống của người môn đệ, nhờ thiền định và giới luật, y học cách để đạt được những khoảnh khắc cao của thời kỳ chuyển tiếp, bất cứ khi nào y tập trung các sức mạnh của mình trên cõi của sự sống linh hồn, và sau đó một lần nữa bằng một tác động của ý chí của mình, y truyền thổi ra các mục đích tâm linh, các kế hoạch và sự sống vào thế giới của kinh nghiệm. Các hình-tư-tưởng mà y đã kiến tạo đối với phần việc mà y phải tham gia, và sự tập trung năng lượng mà y đã thành công trong việc mang lại, bắt đầu có hiệu quả. Năng lượng cần cho bước tiếp theo được linh hồn thở ra và chuyển xuống vào thể sinh lực, nhờ thế kiến tạo khí cụ vật chất với hoạt động xây dựng cần thiết. Khía cạnh đó của kế hoạch mà y đã thấu hiểu trong lúc nhập-định, và phần đó của mục đích chung của Thánh Đoàn, mà linh hồn của y cảm thấy được yêu cầu hợp tác trong đó, được thở ra cùng một 152 lúc, xuyên qua thể trí vào trong não bộ, và như thế “y xua các hình-tư-tưởng ra khỏi y”.

Cuối cùng, trong khoa học về Điều Khí, giai đoạn này bao gồm hơi thở ra đó, khi được tiến hành với tư tưởng và mục tiêu hữu thức đằng sau nó, dùng để tiếp sinh lực cho các trung tâm lực và lấp đầy mỗi trung tâm lực đó với sự sống năng động. Còn nhiều điều nữa không cần nói ở đây.

Như vậy, trong khoa học về việc “thở sâu” này,… Qui Luật IV là một tóm tắt có hệ thống của Sự Sáng Tạo. Đó cũng là thể thức mà linh hồnnhân hoạt động theo đó, khi nó tập trung các sức mạnh của mình để biểu lộ trong ba cõi kinh nghiệm của con người.

Việc vận dụng đúng đắn Sinh-Khí (Life-Breath) là toàn bộ nghệ thuật mà người tìm đạo, bậc đệ tửđiểm đạo đồ đang hoạt động ở đó, tuy nhiên ghi nhớ kỹ rằng khoa học về hơi thở của xác thân là khía cạnh ít quan trọng nhất và nó liên tục theo sát việc sử dụng đúng đắn năng lượng, vốn là từ ngữ mà chúng ta áp dụng cho hơi thở thiêng liêng hay là sự sống.
Cuối cùng, trong đời sống trí tuệ của người môn đệ, và trong công việc lớn lao là học hỏi để thành một chủ thể sáng tạo hữu thức trong chất trí, và như thế tạo ra các kết quả trong thế giới hiện tượng, Qui Luật thứ tư này nắm giữ các hướng dẫn mà công việc này được dựa vào đó. Nó tiêu biểu cho khoa học về toàn bộ công tác huyền thuật (magical work).

Do đó, Qui Luật này bảo đảm cho việc xem xét và nghiên cứu chặt chẽ nhất. Được hiểu đúng và được nghiên cứu một cách đúng đắn, nó sẽ dẫn mỗi người tìm đạo ra khỏi thế giới hiện tượng, vào giới linh hồn. Các hướng dẫn của nó, nếu được thực hiện, sẽ dẫn dắt linh hồn trở lại vào thế giới hiện tượng với tư cách là lực sáng tạo trong huyền thuật về linh hồn và với tư cách là chủ thể vận dụng và là yếu tố chi phối hình tướng và thông qua hình tướng.

Một số qui luật về việc thở, về tiến trình hữu ích và về cách sống thực tế trên cõi trần sẽ được truyền đạt, nhưng trong việc đào tạo loại đệ tử mới trong kỷ nguyên sắp tới, chính ý muốn của vị Gurus và Rishis đang trông nom là họ sẽ được để tự do hơn là trường hợp từ trước đến giờ. Điều này có thể hàm ý một sự phát triển hơi chậm hơn lúc đầu nhưng hy vọng sẽ đưa đến một sự khai mở (unfoldment) nhanh hơn trong các giai đoạn sau trên Con Đường Điểm Đạo.

Do đó, các đạo sinh được thúc đẩy tiến tới trong thời kỳ luyện tập của họ với lòng can đảm và niềm vui, do biết rằng họ là các thành viên của một nhóm các đệ tử, vì biết rằng họ không đơn độc mà biết rằng sức mạnh của nhóm là sức mạnh của họ, sự hiểu biết của nhóm cũng là hiểu biết của họ, khi họ phát triển khả năng để hiểu biết về nó, − và cũng biết rằng bác ái, minh triết và sự hiểu biết của các Huynh Trưởng (Elder Brothers) đang trông nom ở phía sau của mọi Đứa Con Thượng Đế đang cố gắng vươn lên, mặc dù có vẻ như (và một cách khôn ngoan) y bị bỏ mặc để chiến đấu đến cùng, đạt tới ánh sáng bằng sức mạnh của chính linh hồn toàn năng của mình.

 

Qui Luật Năm (Trang 157)

 

Ba sự việc lôi cuốn Thái Dương Thiên Thần (Solar Angel) trước khi lớp vỏ (sheath) được tạo ra chuyển xuống phía dưới; tình trạng của nước, sự an toàn của người sáng tạo như thế, và sự nhập định kiên định. Như thế, tim, cổ họng và mắt, được kết hợp cho việc phụng sự tam phân.

Linh hồn và các Hình-Tư-Tưởng của nó.

Tim, cổ họng và mắt.

Việc khơi hoạt các bí huyệt.

Qui Luật Năm

LINH HỒN VÀ CÁC HÌNH-TƯ-TƯỞNG CỦA NÓ

Qui luật thứ năm này đề cập đến ba yếu tố vốn lôi cuốn sự chú ý của tác nhân sáng tạo, trước khi hình hài vật chất (physical form) hiện ra trong tầm nhìn trên cõi bên ngoài. Ba yếu tố này là:
1. Tình trạng của nước (condition of the waters).
2. Sự an toàn của người sáng tạo như thế (the safety of the one who thus creates).
3. Sự nhập định kiên định (steady contemplation).

Chúng ta sẽ đề cập vắn tắt ba điều này, và kế đó chúng ta sẽ xem xét ba yếu tốđệ tử cần phải liên kết nếu y luôn luôn nhắm vào việc trở thành một người cộng tác tích cực và đầy năng lực với Thánh Đoàn. Các yếu tố này là Mắt, Tim, Cổ Họng. Việc giải thích và ý nghĩa của các qui luật này có thể được tiến hành theo một vài đường lối. Đối với các mục đích của chúng ta, đường lối được theo sẽ là đường lối liên quan đến đệ tử và công việc của y, và sẽ đề cập đến việc huấn luyện y theo công tác huyền thuật của Chân Ngã, khi Chân Ngã đó chiếm ngụ và sử dụng một hình hài vật chất. Những giáo huấn này được dự định trở thành thực tế; chúng sẽ nhấn mạnh việc luyện tập và giới luật của đệ tử, và được phổ biến khắp nơi, người ta sẽ tìm thấy những ngụ ý và gợi ý huyền bí mà, khi được noi theo, sẽ dẫn người tìm đạo đến thực nghiệm và trải nghiệm chân lý. Những người không phải là người tìm đạo thực sự sẽ không nhận ra các gợi ý, và do đó sẽ được giữ khỏi sự nguy hiểm và kinh nghiệm quá sớm.

1. Tình Trạng của Nước (LVHLT, 159)

Tác nhân sáng tạo, tức con người, qua các thúc đẩy của một mục đích phối hợp, có ý định tham thiền và hoạt động sáng tạo, đã tạo ra hình-tư-tưởng mà y đang phú linh (ensouling) bằng sức sống riêng của mình và điều khiển với ý chí của mình. Đã đến lúc để cho hình-tư-tưởng đó được gửi đi theo sứ mệnh của nó, và để thực hiện mục tiêu tồn tại của nó. Như chúng ta đã thấy trong qui luật trước, hình-tư-tưởng được “xua” ra khỏi người tạo tác ra nó bằng sức mạnh của hơi thở ra. Đây là một phát biểu có tính biểu tượng, nhưng đồng thời là một sự kiện thực nghiệm trong công tác huyền thuật. Trong công việc của đệ tử, thường có sự thất bại do y không có khả năng để hiểu cả ý nghĩa huyền bí lẫn nghĩa đen của hơi thở ra này, khi y xúc tiến việc thiền định của mình. Hơi thở ra này là kết quả của giai đoạn đi trước của việc hít thở nhịp nhàng, được song hành bởi công việc thiền định có tập trung, rồi đến một sự tập trung chú ý rõ rệt và tập trung vào hơi thở, vì mục đích của hình-tư-tưởng tạo ra được xác định bằng trí, và cuối cùng là việc tiếp sinh lực cho hình-tưtưởng đó bởi người sáng tạo ra nó, và việc truyền năng lượng sau đó vào sự sống và hoạt động độc lập của nó.

Trở ngại đầu tiên cho hiệu lực của công việc là do sự thất bại của vị đệ tử khi tiến hành các hoạt động này cùng một lúc. Nguyên nhân thứ hai của sự thất bại nằm ở việc y không chú ý xem xét tình trạng của nước, hay là trạng thái của chất liệu tình cảm (emotional substance) mà hình trí tuệ này phải đến, và như thế thu hút vào nó vật chất của cõi cảm dục, điều này sẽ cho phép nó trở thành một thực thể hoạt động trên cõi đó. Nếu nó không thể làm được điều này, thì cuối cùng nó chỉ là một hình-tư-tưởng chết trên cõi trí, vì nó sẽ thiếu lực thúc đẩy đó của dục vọng, vốn cần để đưa nó tiến tới chỗ hoàn tất trên cõi trần.

Thật thú vị khi nhớ điều này: Nếu một hình-tư-tưởng được đưa vào thế giới cảm xúc để thu thập cho nó một thể của ham muốn (lực thôi thúc vốn tạo ra mọi biểu lộ ngoại tại – objectivity) và được nhấn chìm vào một “tình trạng của nước”, vốn có thể được mô tả tốt nhất như là hoàn toàn ích kỷ, thì tất cả những gì xảy ra là như sau: Nó bị mất, do bị hút vào thể cảm dục của vị đệ tử, vốn là điểm tập trung cho mọi năng lượng cảm dụcngười đệ tử sử dụng. Nó bị cuốn vào một lốc xoáy, mà thể cảm dụcnhân là trung tâm của lốc xoáy đó, và đánh mất sự sống riêng biệt của nó. Sự so sánh về xoáy nước có giá trị ở đây. Chủ thể tư tưởng giống như một người ném một chiếc thuyền đồ chơi từ trong bờ vào một dòng nước. Nếu anh ta ném chiếc thuyền đó vào một xoáy nước, nó bị hút ngay vào xoáy trung tâm và thế là biến mất. Nhiều hình-tư-tưởng được tạo ra như thế bởi một người tìm đạo trong công việc thiền định của y bị mất và thất bại trong mục tiêu của chúng, vì tình trạng hỗn loạn và xoay tít của thể tình cảm của người tìm đạo. Thế là các ý định tốt lành trở thành số không; thế là mục đích tốt đẹp và công việc được hoạch định cho Chân Sư không thành hiện thực, bởi vì, khi hình-tư-tưởng đi xuống vào cõi của ham muốn và cảm xúc, nó chỉ tiếp xúc với khối nước đang kích động vì sợ hãi, vì nghi ngờ, vì thù hận, vì sa đọa hoặc sự ham muốn hoàn toàn vật chất. Các điều này mạnh hơn hình-tư-tưởng bé nhỏ, nhấn chìm nó, và nó đi ra khỏi tầm mắt và ra khỏi sự tồn tại, và con người trở nên ý thức một nỗ lực nữa sớm thất bại. Hoặc một lần nữa, “tình trạng của khối nước” không phải là tình trạng của một xoáy nước được tự sinh ra, mà được liên kết nhiều hơn với vòng xoáy của một vũng nước, bị khuấy động thành một cơn sóng nổi bọt và sôi sục, thông qua các hoạt động của các vòng xoáy khác. Có nhiều đệ tử đã đạt đến một mức độ khá cao về việc tự kiềm chế và sự vô vị lợi cá nhân. Họ không phải là những nạn nhân của sự ham muốn và các mục tiêu của phàm nhân; và tương đối thoát khỏi vòng xoáy của các xu hướng ích kỷ. Nhưng thể cảm dục của họ hết lần này đến lần khác bị cuốn vào một trạng thái kích động bởi tập thể mà vì đó và trong đó họ làm việc. Họ phấn chấn hoặc chán nản, hài lòng hoặc không hài lòng với các kết quả mà họ đạt được hoặc không đạt được; sự thành đạt hoặc thiếu thành đạt này, và sự trung kiên hoặc sự phản bội (disloyalties) của những người phụng sự cùng hội với họ, tạo ra sự kích động và sự xáo trộn tình cảm, và do phản ứng mạnh mẽ này, các hình-tư-tưởng của họ, được tạo ra một cách rất cần mẫn và đầy sùng tín, trở thành vô ích. “Kỹ năng trong hành động” của họ bị mất đi, bởi vì họ bị ràng buộc vào kết quả mong muốn và vì thế mà công sức của họ không tạo ra gì cả.

Có nhiều “tình trạng của nước khác mà mỗi người tìm đạothể bổ khuyết cho chính mình. Tuy nhiên có một điều nữa mà Tôi muốn đề cập đến. Thể tình cảm của đệ tử, vốn phải nuôi nấng và chăm bón cho hình-tư-tưởng còn ấu trĩ (với hạt nhân trí tuệ của nó), là một phần tất yếu của hình thể tình cảm của hành tinh, và do đó rung động hòa hợp với hình thể đó. Điều này cũng nên được xem xét một cách cẩn thận, vì thể tình cảm được đưa vào một trạng thái hoạt động theo như tình trạng cảm dục chung, và phải được vận dụng một cách khôn ngoan từ góc độ này.
Vào lúc này có ba tính chất chiếm ưu thế trong hình thể cảm dục của hành tinh sự sợ hãi, sự trông mong và một sự ham muốn tột độ (trong gia đình nhân loại) đối với việc sở hữu vật chất. Hãy lưu ý thuật ngữ “tột độ” (“climaxing”). Sự tổng kết ham muốn của con người đối với hạnh phúc vật chất đã được hoàn thành, và đỉnh cao của sự ham muốn đó đã được vượt qua; như thế nhân loại đã thành tựu và đã vượt qua phần lớn. Nhưng sự nhịp nhàng của các thời kỳ thì bền vững. Ba tính chất này phải được người tìm đạo hiểu rõ và không cần để ý tới khi y tìm cách phụng sự từ các phân cảnh trí tuệ. Ở chỗ của sự sợ hãi, y phải thay thế bằng sự yên tĩnh vốn là đặc quyền của những người luôn luôn sống trong Ánh Sáng Vĩnh Hằng; ở nơi mà sự triển vọng không chắc chắn, y phải thay thế bằng sự quả quyết điềm tĩnh nhưng tích cực về mục tiêu cuối cùng vốn xuất phát từ một tầm nhìn rộng rãi về Thiên Cơ, và sự giao tiếp của y với các đệ tử khác, và sau đó với Chân Sư. Sự ham muốn sở hữu vật chất phải được thay thế bằng sự khao khát (aspiration) đối với các sở hữu vốn là niềm vui của linh hồn – đó là minh triết, bác ái và năng lực phụng sự. Sự yên tĩnh, sự quả quyết và khát vọng chân chính! Ba từ này, khi được hiểu rõ và được trải nghiệm trong đời sống mỗi ngày, sẽ mang lại “tình trạng của nước” đúng đắn, vốn sẽ đảm bảo sự tồn tại của mỗi hình-tư-tưởng, được tạo ra chính đáng trong khi tham thiền bởi người đang hoạt động như một linh hồn.

2. Sự AnToàn của Người Sáng Tạo Như Thế(LVHLT, 163)

Ở đây, có thể nói với sự nhấn mạnh, mặc dù đó là một chuyện hiển nhiên được công nhận, rằng con người thường bị giết chết (theo nghĩa huyền bí và do đó theo ý nghĩa quan trọng hơn) bởi chính các hình-tư-tưởng của riêng họ. Việc tạo ra tư tưởng, qua định trí và thiền định, là một vấn đề rất đỗi nguy hiểm. Điều này phải không bao giờ được quên. Có các hình-tư-tưởng, không bị trở ngại bởi chất liệu đầy dục vọng (much desire matter), không chuyển xuống dưới, nên đầu độc con người trên các phân cảnh trí tuệ (mental levels). Chúng làm điều này theo hai cách:
1. Bằng cách phát triển quá mạnh trên cõi trí đến nỗi con người trở thành một nạn nhân cho sự việc mà y đã tạo ra. Đây là “định kiến” (“idée fixe”) của nhà tâm thần học; sự ám ảnh dẫn tới tình trạng điên rồ; đường lối tư tưởng nhất tâm cuối cùng đe dọa (terrorises) kẻ tạo ra nó.
2. Bằng cách tăng thêm quá nhanh, đến nỗi hào quang thể trí của con người trở nên giống như một đám mây dày 163 đặc mà ánh sáng của linh hồn không đi xuyên qua đó được, và tình thương của con người, các hoạt động đáng yêu, đẹp đẽ, và dễ chịu của thiên nhiên và của cuộc sống trong ba cõi thấp cũng không xuyên qua đó được. Con người bị phủ kín, bị ngạt thở bởi các hình-tư-tưởng của chính mình, và không chống nỗi với độc khí mà chính y đã tạo ra.

Hay, lại nữa, có những đường lối tư tưởng thu hút ra khỏi thể tình cảm một phản ứng có tính chất độc hại. Một đường lối tư tưởng nào đó mà một người theo đuổi có liên quan tới đạo hữu của y. Nó nuôi dưỡng lòng hận thù, ghen ghét và đố kỵ, và tác động đến cùng thành sự biểu lộ theo một cách thức đến nỗi mà nó tạo ra những hoạt động ở cõi trần, và những hoạt động này gây ra cái chết cho người tạo ra chúng. Điều này có thể đúng như trong trường hợp của tội giết người, mà trong nhiều trường hợp, là kết quả của ý định được kết tinh, hoặc nó có thể dẫn đến bệnh tật. Tư tưởng trong sạch, động cơ đúng đắn và ước vọng yêu thương, là các điều-chỉnh (correctives) thực sự của bệnh tật, và nơi nào mà sự mong muốn về các điều này (vốn tạo hứng thú cho nhiều người) được nâng lên thành cách suy nghĩ có tính xây dựng, thì sẽ có việc loại bỏ dần dần tật bệnh. Cho đến nay, mặc dù có nhiều người mong muốn, nhưng chỉ có ít người suy nghĩ như vậy. Đừng bao giờ quên rằng các Đấng Cao Cả không tìm kiếm những người chỉ có mong muốn và khát vọng. Các Ngài tìm kiếm những người biết phối hợp ước muốn của họ với sự quyết tâm học cách sử dụng thể trí của họ để trở thành những người sáng tạo, và những người sẽ làm việc một cách xây dựng hướng về những mục tiêu này.

Do đó người ta sẽ thấy tại sao, trong mọi hệ thống huấn luyện huyền linh thực sự, sự nhấn mạnh được đặt vào việc tư duy đúng đắn, ước muốn bác ái, và đời sống thanh khiết, trong sạch. Chỉ có như vậy thì công việc sáng tạo mới có thể được xúc tiến một cách an toàn, và chỉ có như vậy thì hìnhtư-tưởng mới có thể đi xuống vào thế giới khách quan, và là một tác nhân kiến tạo trên cõi hiện tồn của con người.

3. Sự nhập định kiên định (Steady Contemplation).

Bạn sẽ chú ý rằng ở đây từ ngữ thiền định” (“meditation”) không được sử dụng. Tư tưởng là một điều khác hẳn. Tiến trình thiền định, bao hàm việc sử dụng tư tưởng và kiến tạo hình thể của trí tuệ, để nó có thể được hoàn thành và được làm cho đầy đặn, và phù hợp với hình-tư tưởng của nhóm đệ tử đồng môn của vị đệ tử, và do đó đối với Thiên Cơ, tiến trình thiền định đã được hoàn thành đến hết khả năng của con người. Bây giờ y phải, một cách kiên định, chiêm nghiệm những gì mà y đã tạo ra, và cũng với sự kiên định, truyền cho nó sự sống cần thiết, để nó có thể hoàn thành chức năng của nó.

Y ngưng lý luận, ngưng suy tưởng, ngưng diễn đạt và ngưng kiến tạo trong chất trí. Y chỉ tuôn đổ sự sống của mình vào hình-tư-tưởng và gửi nó ra để tiến hành ý muốn của mình. Chỉ cần là y có thể suy ngẫm và giữ điềm tĩnh, nhờ đó sự sáng tạo của y sẽ hoàn thành ý định của y và tác động như là tác nhân (agent) của y.
Chỉ chừng nào y có thể tập trung sự chú ý của mình vào lý tưởng mà theo đó y đã tạo ra hình-tư-tưởng của mình, và có thể liên kết hình-tư-tưởng đó và lý tưởng lại với nhau trong một tầm nhìn vững chắc, chỉ khi đó hình tư tưởng đó mới phục vụ mục đích của y và thể hiện lý tưởng của y. Ở đây có ẩn cái bí mật của toàn bộ sự hợp tác thành công với Thiên-Cơ (Plan).

Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu trong chốc lát các từ “tim, cổ họng và mắt”, vì chúng có một ý nghĩa đặc biệt. Ba bộ phận này tạo thành bộ máy mà mọi đệ tử đều dùng đến trong chu kỳ thế giới đang đến rất nhanh này.

Điều hết sức thật là cho đến nay .. Chỉ có khoảng 400 đệ tử nhập môn trên thế giới vào lúc này – nghĩa là, những người nam và nữ thực sự biết họ là đệ tử, biết công việc của họ là gì và đang thực hiện công việc đó. Tuy nhiên vẫn có hàng trăm người (trong thế hệ những người trẻ tuổi hiện tại) sắp được thu nhận, và hàng ngàn người đang ở trên con đường dự bị (probationary path). Trong tất cả các nhóm nội môn thực sự, sẽ hình thành ở đó một nhóm mà trong đó một sự hiểu biết mang tính trí tuệ về cơ cấu này của tim, cổ họng và mắt sẽ được nhận thấy….. Tôi muốn kêu gọi chú ý đến những lời này, và đề nghị nghiên cứu chúng cẩn thận.

Một bộ máy trong thể thiên nhiên được sử dụng theo hai cách: Thứ nhất, việc sử dụng nó là không cố tình, và không có sự hiểu biết về việc làm thế nào, hoặc tại sao, hoặc khi nào mà bộ máy được sử dụng. Một con thú sử dụng một bộ máy, trong nhiều khía cạnh, tương tự với bộ máy mà con người sử dụng. Nó thấy, nghe và hoạt động một cách có hệ thống theo các đường lối tương tự như con người, nhưng lại thiếu sự hiểu biết về trí tuệ và sự liên kết nhân và quả, vốn là đặc trưng của giới cao trong thiên nhiên.

Một tình trạng các sự việc tương tự tồn tại trong các giai đoạn đầu của con đường đệ tử và các giai đoạn cuối cùng của con đường dự bị. Đệ tử bắt đầu ý thức các khả năng và các quyền lựctừ trước đến giờ không ở dưới sự kiểm soát sáng suốt của y. Y trải nghiệm các lóe sáng của nội nhãn thông, và của tri thức mà dường như không thể hiểu nổi và không có giá trị tức thì. Y tiếp xúc với các rung động và các hiện tượng của các lĩnh vực khác, nhưng vẫn không ý thức được tiến trình mà theo đó y đã làm như vậy, và thiếu năng lực hoặc là để làm lại, hoặc nhớ lại kinh nghiệm. Bên trong thể dĩ thái của mình, y cảm nhận các mãnh lực đang hoạt động. Đôi khi y có thể xác định vị trí của các lực đó… (các trải nghiệm thấp cần rứt bỏ mạnh mẽ-NTH).

Ở đây, Tôi muốn minh giải một cách thật rõ ràng cho tất cả những người tìm đạo chân chính và nhiệt tình rằng, trong việc đào tạo sẽ được đưa ra trong vài thập niên tới, việc khai mở nhãn thông cảm dục (astral vision) và nhĩ thông cảm dục sẽ bị ngăn chận hoàn toàn, hoặc (nếu có) thì cuối cùng sẽ phải được khắc phục. Vị đệ tử chân chính đã cố gắng để tập trung chính mình (an trụ) vào cõi trí với mục tiêu trước mắt là chuyển tâm thức của mình lên cao hơn nữa, vào ý thức rộng lớn hơn và có tính bao gồm của linh hồn.

Thứ hai, khi việc sử dụng các khí cụ chủ quan trở nên tự ý, và một người biết nó nên được sử dụng như thế nào, khi y đang dùng nó, và có thể không tiếp tục dùng nó hoặc lại tiếp tục dùng nó tùy thích, khi đó toàn bộ tình trạng của y thay đổi và sự hữu dụng của y tăng lên. Nhờ việc sử dụng thể trí, nhân loại đã bắt đầu ý thức các mục tiêu và cách sử dụng bộ máy vật chất (xác thân). Bây giờ nhờ việc sử dụng một quan năng còn cao hơn nữa, vốn là một đặc tính của linh hồn, con người đi vào kiểm soát có chủ định và sáng suốt khí cụ của mình, và học cách hiểu được các mục đích mà vì đó nó tồn tại.

Quan năng cao này chính là trực giác (intuition).

Liệu Tôi có thể thêm với sự nhấn mạnh rằng chỉ khi người nào bắt đầu có trực giác, y mới trở nên hữu dụng trong một nhóm của Chân Sư, và Tôi khuyến nghị với tất cả những người tìm đạo rằng, họ phải cẩn thận nghiên cứu ý nghĩa và sự quan trọng của trực giác. Khi nó đang bắt đầu hoạt động, bấy giờ đệ tử có thể chuyển từ giai đoạn dự bị sang giai đoạn nhập môn trong một nhóm của Chân Sư.

Ở đây, bạn có thể hỏi làm thế nào mà người đệ tử dự bị (probationer) có thể nhận biết, hoặc xác định điều này.

Một số lượng lớn việc đào tạo được dành cho một đệ tử dự bị, mà y thực sự không nhận biết nó một cách hữu thức. Các xu hướng lỗi lầm được chỉ ra cho y khi y tìm cách, với sự chân thành, tự huấn luyện mình cho việc phụng sự, và việc phân tích động cơ khi được cam kết một cách trung thực, dùng một cách không ngờ để nâng vị đệ tử tương lai ra khỏi cõi giới cảm dục hay tình cảm, đi vào cõi giới trí tuệ. Chính ở nơi cõi trí mà các Chân Sư (Masters) được giao tiếp lần đầu tiên, và phải tìm kiếm các Ngài ở nơi đó.

Nhưng đã đến lúc, khi Ánh Sáng (Light) trong đầu không chỉ hiện hữu, mà còn có thể được sử dụng phần nào. Nghiệp quả (karma) của người tìm đạo là thế, để y trở nên có thể, qua nỗ lực được áp dụng một cách bền bĩ, vận dụng cuộc sống của y theo cách mà y không những chỉ có thể thi hành nghiệp quả của mình và thực hiện các nghĩa vụ của mình, mà còn có đủ sự kiên định để cho phép y xử lý các vấn đề và các nghĩa vụ ở cương vị đệ tử nữa. Việc y phụng sự những người khác được tiến hành với động cơ đúng đắn, và đang bắt đầu có giá trị và làm cho sức mạnh của nó được cảm nhận, và y đang mất đi việc nhìn thấy các lợi ích riêng của mình trong các lợi ích của những người khác. Khi điều này xảy ra, một số biến cố huyền bí (esoteric happenings) diễn ra.

Chân Sư bàn bạc với một số các đệ tử cao cấp của Ngài về việc nên làm (advisability) trong việc tiếp nhận người tìm đạo vào trong hào quang của nhóm, và trong việc phối hợp rung động của người này với rung động của nhóm. Sau đó, khi đạt được sự nhất trí, trong khoảng hai năm, một đệ tử thâm niên hoạt động như người trung gian giữa Chân Sư với người tìm đạo mới được chấp nhận.

Suốt thời gian này, người tìm đạo vẫn không biết về những gì đã xảy ra và không biết đến các tiếp xúc bên trong của y. Tuy nhiên, y nhận thấy ba việc trong y:

Hoạt động trí tuệ gia tăng. Lúc đầu, điều này sẽ mang lại cho y nhiều xáo trộn, và y sẽ cảm thấy như thể y đang mất kiểm soát thể trí thay vì có được nó, nhưng điều này chỉ là một tình trạng tạm thời và dần dần y sẽ nắm quyền điều khiển.
Việc đáp ứng với các ý tưởng tăng lên và sự gia tăng năng lực đối với tầm nhìn về kế hoạch của Thánh Đoàn. Trong các giai đoạn đầu, điều này sẽ làm cho y thành cuồng tín đến một mức độ nào đó. Y sẽ liên tục bị xúc động với những lý tưởng mới, học thuyết mới, các cách sống mới, các ước mơ mới để cải thiện nhân loại. Y sẽ bàn bạc hết phong trào này đến phong trào khác, vì chúng dường như có triển vọng cho thiên niên kỷ tới. Nhưng sau một thời gian, y lấy lại thăng bằng của mình, và mục đích nắm quyền kiểm soát đời sống của y. Y làm công việc riêng của mình, và mang đến sự đóng góp của mình vào hoạt động chung, với hết khả năng của mình.
Tính nhạy cảm tâm linh tăng lên. Tính chất này là một dấu hiệu tăng trưởng mà đồng thời còn là một sự thử thách. Y thường hay bị lừa gạt bởi những sự quyến rũ (allurements) của các quyền năng tâm linh; y sẽ bị cám dỗ làm lệch hướng các nỗ lực của y ra khỏi công cuộc phụng sự chuyên biệt đối với nhân loại, trở thành việc khai thác các quyền năng tâm linh, và sử dụng chúng cho việc khẳng định bản ngã.

+ Đệ tử Tiếp xức với Chân Sư (LVHLT, 171): Xem trong sách khi đã xứng đáng là đệ tử

* TIM, CỔ HỌNG VÀ MẮT (LVHLT, 189)
Hiểu biết về ý nghĩa thực sự của tim, cổ họng và mắt. Do đó, bây giờ chúng ta sẽ xem xét:
1. Bí huyệt tim, bí huyệt cổ họng, và bí huyệt giữa hai mắt.
2. Việc khơi hoạt và kết hợp các bí huyệt đó.
3. Chúng sẽ được dùng vào những việc gì trong chu kỳ thế giới sắp tới.
Chủ đề này cực kỳ quan trọng đối với người tìm đạo hiện đại,cơ cấu của tim, cổ họng và mắt − tạo thành một phần của cấu trúc bên trong mà y phải học cách sử dụng − phải được chủ trị và được vận dụng có ý thức bởi người tìm đạo, trước khi có thể có bất kỳ hoạt động sáng tạo thực sự nào. Khi Tôi sử dụng từ ngữ “hoạt động sáng tạo”, Tôi đang nói về phương diện huyền bí, chứ Tôi không đề cập đến hoạt động ngoại môn ( đáng giá được các nghệ sĩ của thế gian thực hiện ).
Tôi đang giả định nơi đạo sinh có một kiến thức cơ bản về thể sinh lực và về các trung-tâm-lực của thể đó, và Tôi giả sử rằng bảy trung tâm lực hay các hoa sen, về mặt lý thuyết có một vị trí trong trí tưởng tượng của y. Tôi dùng từ ngữ trí tưởng tượng (imagination) với ý định có chủ đích, vì cho đến khi có được kiến thức và tầm nhìn rõ ràng, việc giả định mang tính tưởng tượng là một yếu tố có uy lực lớn trong việc đưa đến hoạt động của các trung tâm lực.
Để minh giải, chúng ta hãy liệt kê các hoa sen này với số cánh hoa và vị trí của chúng. Màu sắc thì không quan trọng, vì nhiều điều đã được đưa ra thì không đúng hoặc có tính chất của một màn che, và bất luận thế nào, màu sắc nội môn khác xa với màu công truyền.
1. Đáy của xương sống ………. 4 cánh hoa
2. Bí huyệt xương cùng ……… 6 cánh hoa
3. Bí huyệt đan điền …………… 10 cánh hoa
4. Bí huyệt tim …………………… 12 cánh hoa
5. Bí huyệt cổ họng ……………. 16 cánh hoa
6. Bí huyệt giữa lông mày ….. 2 cánh hoa
7. Bí huyệt đầu ………………….. 1.000 cánh hoa
Thật dễ dàng để nói chung chung. Thật khó khăn để nhận thức rõ. Thật là đơn giản để nắm bắt các dữ liệu trí tuệ nâng cao kiến thức liên quan đến các trung-tâm lực; điều khó khăn nhất là đưa đến sự tái sắp xếp các thần lực đang tuôn qua các xoáy lực này, và học cách hoạt động có ý thức thông qua các trung-tâm-lực cao, đang phụ thuộc vào những trung tâm lực thấp. Điều này cũng phải được thực hiện mà không chú trọng vào khía cạnh hình tướng, như trường hợp trong nhiều thực hành được dùng để truyền sinh lực vào các trung tâm lực. Hai sự kiện quan trọng là:
1. Ba trung tâm lực dưới cơ hoành,
a/ Bí huyệt đáy xương sống,
b/ Bí huyệt xương cùng,
c/ Bí huyệt đan điền,
mà hiện nay là những bí huyệt có uy lực nhất trong nhân loại bậc trung, và là những bí huyệt “linh hoạt” nhất, cần được tái tổ chức, tái định hướng, và được đưa từ trạng thái tích cực sang trạng thái tiêu cực.
2. Tương tự, bốn trung tâm trên cơ hoành,
a/ Bí huyệt tim,
b/ Bí huyệt cổ họng,
c/ Bí huyệt giữa hai mày,
d/ Bí huyệt đầu,
phải được đánh thức và được đưa từ trạng thái tiêu cực sang trạng thái tích cực.

1- Điều này phải được mang lại theo hai cách.

a. Đầu tiên, bằng việc chuyển năng lượng tích cực của các bí huyệt thấp thành năng lượng tích cực của bí huyệt cao hơn, và

b. thứ hai, bằng việc đánh thức bí huyệt đầu do sự thể hiện hoạt động của ý chí.

– Hiệu quả đầu tiên được tạo ra bằng việc xây dựng tính-cách và bằng sự thanh lọc các thể, khi được linh hồn sử dụng trong ba cõi thấp.

– Hiệu quả thứ hai là kết quả của việc thiền định và sự phát triển mục đích có tổ chức, do ý chí áp đặt lên sự sống hằng ngày.

(Xây dựng tính cách, lối sống trong sạch, các phản ứng tình cảm có kiểm soát, và tư duy đúng đắn là các lời lẽ vô vị (platitudes) của tất cả các hệ thống tôn giáo, và đã bị mất tác dụng (weight) do việc chúng ta quá quen thuộc với chúng).

Nhớ rằng khi chúng ta sống một cách thanh khiết và đúng đắn, thực ra chúng ta đích thực đang hoạt động với các thần lực, đang chinh phục các năng lượng theo các nhu cầu của chúng ta, đang làm cho các sự sống tinh-hoa-chất phụ thuộc vào các nhu cầu của bản thể tinh thần (spiritual being), và đang đưa vào hoạt động một cơ cấu và một cấu trúc quan trọng, mà cho đến nay chỉ tiềm tàng và thụ động. Tuy nhiên, nó vẫn là một thực tại, để rồi khi các năng lượng tiềm tàng ở đáy cột sống được đưa lên đầu và được mang (xuyên qua đan-điền, tức là nơi thu thập và phân phối năng lượng, và hành tủy) đến bí huyệt giữa hai lông mày, lúc bấy giờ phàm-ngã, tức khía cạnh vật chất, đạt đến địa vị thần thánh của nó, và Trinh Nữ Mary (Virgin Mary) – trong ý thứcnhân, vốn là một thực thể tương đương hữu hạn của một Thực Tại vô hạn − được “đưa đến tận Thiên Đường” để ngồi ở đó, bên cạnh con trai của bà, tức Đấng Christ, hay linh hồn.
Khi các năng lượng của bí huyệt xương cùng, từ trước đến nay được tập trung vào hoạt động sáng tạo vật chất và sinh sản, và vì thế là nguồn gốc của đời sống tính dụccõi trần và mối quan tâm vật chất, được thăng hoa, được tái định hướng và được đưa đến bí huyệt cổ họng, bấy giờ người tìm đạo trở thành một lực sáng tạo hữu thức trong các cõi giới cao; y tiến vào bên trong bức màn, và bắt đầu tạo tác các mô hình của những sự vật vốn cuối cùng sẽ mang lại các cõi trời mới và cõi trần thế mới.

Khi các năng lượng của đan điền – các biểu hiện từ trước đến giờ của bản chất dục vọng mạnh mẽ, nuôi dưỡng đời sống tình cảm của phàm-ngã – cũng được chuyển hóa và được tái định hướng, sau đó chúng được đưa đến bí huyệt tim, và dẫn đến, như một kết quả, một nhận thức về ý thức tập thể, về lòng bác ái tập thể và mục đích tập thể, vốn làm cho người tìm đạo thành một người phụng sự nhân loại và một người cộng tác thích hợp của các vị Huynh-Trưởng của nhân loại.
Khi ba sự chuyển di này đã được hoàn thành (consummated), sau đó là một hoạt động diễn ra (transpires) trong bí huyệt đầu, tức yếu tố chi phối cuối cùng, và bằng một tác động ý chí của linh hồn cai quản bên trong, một số diễn biến xảy ra mà chúng ta có thể xem xét sau này trong các nghiên cứu của chúng ta.(LVHLT, 192)

2. Sự kiện thứ hai cần ghi nhớ là khi các thay đổi và các việc tái-định-hướng này diễn ra, đệ-tử bắt đầu thức tỉnh, về mặt tâm lý, các trạng thái tâm thức mới, các trạng thái hiện tồn mới và các trạng thái bản thể mới.

Thể trí diễn giải, tổ chức, hiểu biết (the interpreting, organising, understanding mind) không thể thể hiện vai trò của nó. Nơi nào thiếu sự hiểu biết và năng lực trí tuệ, thì nơi đó có nguy cơ hiểu sai, cả tin và diễn giải sai về những hiện tượng của các trạng thái hiện tồn khác nhau. Một ý thức về các giá trị sẽ thiếu, và người tìm đạo sẽ đánh giá quá cao những điều không thiết yếu, và không hiểu rõ giá trị của các thực tại tinh thần.
Năng lượngthể tuôn đổ vào các trung tâm lực trong những trường hợp này, nhưng vì không có trí thông minh định hướng, nó sẽ chạy lung tung và lúc đó chúng ta có những trường hợp đáng buồn, vốn rải rác trên con đường của nỗ lực huyền bí, và làm cho hoạt động của Thánh Đoàn (the Lodge) mang tai tiếng (Các trường hợp về những phàm-ngã được cường điệu quá mức, về những người mộ đạo mê tín, về các tín đồ cả tin của các nhà lãnh đạo, về các lý tưởng gia cuồng tín thiếu cân bằng, và về những người tâm trí lệch lạc vốn nhận càn vào họ các quyền năng không phải là của họ. Những người nam và nữ trở nên bị ảnh hưởng bởi cảm-dục tính (astralism) và lạc lối trong thung lũng của ảo tưởng, tự xem họ dị biệt với những người khác, tự đặt họ lên một bệ cao xa cách với nhân loại bậc trung. Họ cố tâm sa vào tội chia rẻ. Thêm vào danh mục trên là các trường hợp bại hoại tính dục, gây ra bởi sự kích thích quá độ vào bí huyệt xương cùng, các trường hợp của chứng loạn thần kinh chức năng và chứng quá nhạy cảm và chứng đa cảm, gây ra bởi sự truyền sinh-khí (vitalisation) sớm của bí huyệt đan điền, và cuối cùng là các trường hợp điên loạn (insanity) gây ra bởi sự kích thích quá độ vào các tế bào não qua việc thiền định thiếu khôn ngoan, sự việc sẽ trở nên ngày càng rõ ràng là tại sao việc tiến hành chậm rãi và việc phát triển các tiến-trình trí-tuệ cũng như tính chất tinh thần được cho là cần thiết).(LVHLT, 194)

+ NGƯỜI TÌM ĐẠO CHỈ ĐƯỢC LUYỆN TẬP TRÊN BA TRUNG TẤM LỰC CHÍNH (LVHLT, 195)

Người tìm đạo không thể hoạt động với, và vận dụng tất cả bảy loại năng lượng này một cách sáng suốt trong các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ-Tử. Việc nhấn mạnh, nhằm mục đích luyện tập, chỉ được đặt trên ba trong số bảy loại. Đó là:
1. Năng lượng của Ý chí, sức mạnh hay quyền năng, qua trung gian của bí-huyệt đầu. Đây là năng lượng của con người tinh thần (spiritual man), đến trực tiếp từ Monad (Chân Thần), xuyên qua linh hồn. Tuy nhiên, mãi đến cuộc điểm đạo thứ ba, tất cả những gì mà đệ-tử cần hiểu là khía cạnh ý chí của linh hồn sẽ kiểm soát phàm-ngã, xuyên qua thể trí đến bí huyệt đầu. Khi xảy ra trường hợp này thì hoa sen ngàn cánh bắt đầu hoạt động. Tuyến của dòng thần lực này là:
Monad
Atma. Ý chí tinh thần.
Vòng các cánh hoa bên trong của hoa sen Chân Ngã, các cánh hoa ý chí.
Thể trí
Bí huyệt đầu trong thể dĩ-thái. Hệ thần kinh và não bộ.
2. Năng lượng Bác ÁiMinh Triết, qua trung gian của bí huyệt tim. Khi được khơi hoạt, bí huyệt này dẫn đến việc mở rộng tâm thức, điều này khởi đầu cho một người vào cuộc sống của nhóm y. Y mất đi ý thức chia rẻ, và cuối cùng hòa nhập vào ánh sáng nhận thức đầy đủ – một sự nhận thức về sự hiệp nhất với Thượng Đế nội tại của riêng mình, với tất cả nhân loại, với mọi linh hồn trong mọi hình thức của thiên nhiên, và vì thế với Đại Hồn (Oversoul). Dòng thần lực này cũng đến từ Chân Thần, xuyên qua linh hồn, và đường đi của nó là như sau:
Monad
Bồ Đề (Buddhi). Bác ái tinh thần. Trực giác.
Vòng cánh hoa thứ hai trong hoa sen chân ngã, những cánh hoa bác ái.
Thể cảm dục.
Bí huyệt tim.
Dòng máu.
Nơi người ít tiến hóa, dòng thần lực này chỉ đi xuyên qua bí huyệt tim, thẳng đến đan điền và sử dụng hai khía cạnh là sự sống sinh động và tính chất linh hồn, một khía cạnh truyền sinh lực cho dòng máu, và khía cạnh kia kích hoạt bí huyệt đan điền. Thần lực này sau đó trở thành yếu tố chủ đạo trong đời sống năng lượng của con người, và sức mạnh mà qua đó bản chất dục vọng của y tự thể hiện, cho đến khi người tìm đạo đem đến sự chuyển hóa cần thiết và sự tái định hướng bản chất dục vọng tình cảm của y. Khi đó, bí huyệt tim thức tỉnh đi vào hoạt động và sự sống của bí huyệt đan điền trở nên bị phụ thuộc vào sự sống của bí huyệt tim. Điều này được mang lại bởi sự phát triển các mối quan tâm đến tập thể, bởi việc trau dồi tính bao gồm và việc mất dần sự quan tâm đến phàm-ngã, đến những sự việc có tính chia rẻ và ích kỷ.
3. Năng lượng của trí tuệ linh hoạt, hay năng lượng làm sinh động khía cạnh hình tướng, và làm cho các hình tướng phù hợp với các mục đích chủ quan của trí thông tuệ đang chủ trì – Thượng Đế hoặc con người, loài người hoặc thần thánh. Năng lượng này cũng đi từ trạng thái thứ ba của Monad, và đường lối tiếp xúc của nó là:
Monad.
Manas. Sự thông tuệ tinh thần. Thượng trí.
Vòng thứ ba hay vòng các cánh hoa ngoài cùng trong hoa sen Chân Ngã, các cánh hoa tri thức.
Thể dĩ thái nói chung, vì thể này thâm nhập khắp nhục thân.
Bí huyệt cổ họng.
Các tế bào của thể.

Nơi người ít tiến hóa, như trong trường hợp của trạng thái thứ hai và sự khai mở của nó, năng lượng chỉ đi qua bí huyệt cổ họng và đi thẳng đến bí huyệt xương cùng, và do đó đưa vào hoạt động các tiến trình sinh sản và các khả năng sáng tạo, được sử dụng trong việc sinh sản và đời sống tính dục của nhân loại.
Đây là một phác thảo đại cương và tổng quát của ba dòng thần-lực chính hay là năng-lượng thiêng liêng và đường đi của chúng.
Mối liên hệ của bí huyệt đầu với bí huyệt đáy cột sống, nơi có luồng hỏa đang ngủ yên, sẽ không được xem xét ở đây, cũng như chức năng của bí huyệt đan-điền với cương vị một nơi thu nhận và phân phối các năng lượng thấp sẽ không được đề cập đến. Tôi rất mong muốn các đạo sinh chỉ đơn giản nắm bắt ý tưởng tổng quát và bộ khung của giáo lý.
Mỗi người theo thời gian, tiến hành con đường trở về của y trên Con Đường Hoàn Nguyên theo một trong ba cung chính. Cuối cùng, mọi người đều phải thể hiện khả năng sáng tạo thông minh, được làm sinh động bởi lòng bác ái thiêng liêng, và đưa Ý Chí vào hoạt động theo đúng chức năng, khi ý chí đó thể hiện Thiên ÝThiên Cơ.

Trung-tâm-lực đầu tiên mà người tìm đạo muốn khơi hoạt một cách có ý thức, và tập trung vào đó trong các giai đoạn đầu mới tu hành của mình, là bí huyệt tim. Y phải học để có tập-thể-thức, để nhạy cảm với những lý tưởng tập thể, và có tính bao gồm trong các kế hoạch và các quan niệm của mình. Y phải học cách yêu thương có tính cách chung (collectively) và một cách thanh khiết, chứ không bị thúc đẩy bởi sự thu hút của phàm-ngã, và động cơ được tưởng thưởng. Nếu không có sự thức tỉnh này nơi bí huyệt tim, y không thể được phó thác để vận dụng các quyền năng sáng tạo của bí huyệt cổ họng, vì các quyền năng này sẽ bị lệ thuộc vào việc tự đề cao, và đủ loại tham vọng.

+ VIỆC KHƠI HOẠT CÁC BÍ HUYỆT (LVHLT, 201)

Sự khơi hoạt và phối kết này có thể được xảy ra như thế nào? Các bước nào phải được thực hiện để tạo ra việc truyền sinh khí (vitalisation) và hoạt động tổng hợp cuối cùng này của ba bí huyệt? Đối mặt với những câu hỏi này, vị huấn sư chân chính nhận thấy một việc khó khăn. Thật không phải dễ dàng để minh giải các hoạt động bí truyền và đi song song vốn là kết quả của việc kiến tạo cá tính. Vì vậy, thường thường người tìm đạo rất nóng lòng để được kể một điều mới nào đó, và khi y được kể lại một chân lý cũ nào đó – quá cũ và quá quen thuộc đến nỗi nó không gợi lên một đáp ứng đáng ghi nhận nào – y cảm thấy rằng vị huấn sư đã lơ là y và vì thế không chịu nổi với cảm giác không hiệu quả (futility) và sự ngã lòng. Tuy nhiên, điều này phải được làm cho thỏa mãn và những câu hỏi phải được giải đáp. Vì thế, Tôi sẽ nói rõ các yêu cầu cần thiết một cách càng súc tích càng tốt, đưa chúng ra theo thứ tự liên tiếp và dựa trên mức độ quan trọng của chúng theo quan điểm của người tìm đạo bậc trung. Vậy chúng ta hãy liệt kê chúng dưới hình thức bảng biểu, và sẽ đề cập vắn tắt đến mỗi điểm sau đó.

1. Việc kiến tạo cá tính, điều kiện cần thiết trước tiên và thiết yếu.
2. Động cơ đúng đắn.
3. Việc phụng sự (service).
4. Việc thiền định.
5. Một nghiên cứu chuyên môn về khoa học các bí huyệt.
6. Các bài tập thở.
7. Việc nghiên cứu về kỹ thuật của Ý- Chí (the Will).
8. Việc phát triển năng lực để sử dụng thời gian.
9. Việc khơi hoạt luồng hỏa Kundalini.
+ Điểm thứ 9 và cuối cùng này sẽ không được xem xét ở giai đoạn đào tạo này của chúng ta. Lý do thật rõ ràng. Hầu hết người tìm đạo đang ở giai đoạn của các điểm thứ ba và thứ tư; và chỉ mới bắt đầu hoạt động với các điểm thứ năm và thứ sáu. Chúng ta hãy đề cập vắn tắt đến mỗi giai đoạn cần thiết này, và Tôi yêu cầu các bạn cần phải có nhận thức ở một mức độ nào đó về trách nhiệm được đòi hỏi do sự hiểu biết này. Bạn có nhận thức sự kiện là nếu bạn đang vận dụng đầy đủ mỗi mẩu thông tin được đưa ra trong thời gian luyện tập, làm cho nó thành một thực tế trong kinh nghiệm của bạn, và trong đời sống hằng ngày của bạn, bạn sống bằng giáo huấn được dạy một cách vững vàng, bạn sẽ đứng ngay trước Cổng Điểm Đạo hay chăng? Bạn có nhận ra rằng một chân lý phải được thể hiện trong kết cấu của cuộc sống hằng ngày trước khi một chân lý mới có thể được truyền đạt một cách an toàn?

1. Kiến Tạo Cá Tính (LVHLT, 202):

– Mỗi người chúng ta bước vào cuộc đời với một trang bị nhất định – là sản phẩm của các kiếp sống của nỗ lực và kinh nghiệm đã qua. Trang bị đó có trong nó một số khiếm khuyết hoặc thiếu sót, và hiếm khi có tính chất hài hòa.

1- Một người thì quá trí tuệ. Người khác thì quá tâm linh.

2- Người thứ ba chủ yếu thiên về vật chất, và còn người khác nữa lại quá thần bí.

3- Một người thì nhạy cảm, dễ bị kích thích, và dễ bị tác động. Người khác thì ngược lại với tất cả những tính chất này.

4- Một người thì tập trung vào bản chất thú tính của mình, hoặc là quá thiên về vật chất trong quan điểm về cuộc sống của mình, trong khi người khác lại biết nhìn xa trông rộng và thoát khỏi các tội lỗi của xác thịt.

– Các điểm bất đồng giữa những con người thì vô số, nhưng trong mỗi kiếp sống có một xu hướng nổi bật mà tất cả các năng lượng của bản thể y đều xoay về đó.

thể y bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các mãnh lực vật chất và tất nhiên sống đời sống của một con vật. Hoặc là y bị ảnh hưởng bởi năng lượng cảm dục và sống một cuộc sống tình cảm và tâm linh một cách mãnh liệt (potently). Có lẽ − giống như rất nhiều người – y bị ảnh hưởng bởi ba loại năng lượng, vật chất, tình cảm, và một dòng năng lượng linh hồn không thường xuyên.

Điểm cần ghi nhớ là các thể mà trong đó chúng ta, với tư cách linh hồn, đang hoạt động, cấu thành chủ yếu là các thể năng lượng. Chúng được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng, các nguyên-tử ở trong một trạng thái tuôn chảy và chuyển động liên tục, và tìm chỗ của chúng trong một môi trường có bản chất tương tự. Hoạt động như hạt nhân tích cực trong các thể năng lượng này, và vào lúc này, tương đối tĩnh tại trong phần lớn các trường hợp, là linh hồn. Từ trước đến nay, linh hồn ít gây sức ép lên các thể thấp (sheaths, các lớp vỏ) của nó, và tự đồng hóa bản thân nó với chúng, do đó tạm thời làm mất hiệu quả sự sống nội tại riêng của nó.
Tuy nhiên, sẽ tới ngày mà linh hồn thức tỉnh với nhu cầu phải chi phối tình hình và phải khẳng định uy quyền của chính nó. Khi đó, con người (lúc đầu thì thỉnh thoảng) đánh giá lại tình hình. Y phải khám phá trước tiên loại năng lượng nào nổi trội hơn, và là lực thúc đẩy trong kinh nghiệm hằng ngày của mình. Khi đã phát hiện ra điều này, y bắt đầu tổ chức lại, định hướng lại và xây dựng lại các thể của mình. Toàn bộ phần giảng dạy này có thể được tóm gọn trong hai từ ngữ: Tật xấu (Vice) và Đức Hạnh (Virtue).

a- Tật xấunăng lượng của các lớp vỏ (thể thấp) riêng biệt hoặc được kết hợp trong phàm-ngã, khi nó kiểm soát các hoạt động của sự sống và làm cho linh hồn phụ thuộc vào các lớp vỏ, và vào các xung lực và các xu hướng của phàm-ngã.
b- Đức hạnh là việc kêu gọi sự giúp đỡ của các năng lượng mới và của một nhịp điệu rung động mới, để cho linh hồn trở thành yếu tố kiểm soát tích cực, và các mãnh lực của linh hồn thay thế các mãnh lực của các thể thấp. Tiến trình này là tiến trình của việc kiến tạo tính cách. Hãy để Tôi minh họa! Một người là nạn nhân của một tính khí dễ cáu kỉnh và hay gắt gỏng. Chúng ta nói với y rằng anh ta cần phải bình tĩnh và thanh thản, và trau dồi hạnh dứt bỏ để nhờ thế đạt được sự tự kiểm soát. Chúng tôi dạy cho anh ta rằng thay vì có tính tình cáu gắt, nên có sự dịu dàng và bình tĩnh. Điều này nghe có vẻ vô vị và rất đáng chán. Tuy nhiên những gì thực sự đang được nói chính là : ở chỗ của bản chất hiếu động vị kỷ dễ xúc động, và sự hoạt động của bí huyệt đan-điền (mang theo các mãnh lực mạnh mẽ của cõi cảm dục), nên áp đặt ở đó nhịp điệu điềm tĩnh vô tư và hòa hợp của linh hồn, tức Chân Ngã. Công việc áp đặt rung động cao lên trên rung động thấp này là việc kiến tạo tính cách, điều kiện tiên quyết đầu tiên trên Con Đường Dự Bị. Khi đọc mục này đạo sinh nhiệt tâm có thể bắt đầu tổng kết các tài sản về năng lượng của mình; y có thể lập bảng kê các lực mà y cảm thấy chi phối cuộc sống của mình, do đó đi đến một sự hiểu biết hợp lý và trung thực về các lực đang cần được hạ thấp xuống, và những lực cần được tăng cường. Sau đó, trong ánh sáng của chân tri thức, y hãy tiến tới trên con đường định mệnh của y.

5. Việc nghiên cứu về các bí huyệt (LVHLT. 206).

Bây giờ chúng ta đang bắt đầu việc nghiên cứu này. Đó là một cuộc nghiên cứu mà cho đến nay còn trong tình trạng ấu trĩ ở Phương Tây, và ít được áp dụng ở Phương Đông. Cách tiếp cận của chúng ta sẽ có phần nào mới mẻ, vì mặc dù chúng ta sẽ làm quen với các tên gọi, các vị trí và các mối liên quan của các bí huyệt, chúng ta sẽ không thực hành thiền định trên các bí huyệt này. Cuối cùng chúng ta sẽ đạt đến một sự nhận thức sâu sắc về sự rung động của chúng, về sắc thái (tone) và các màu sắc của chúng, và về các ý nghĩa (significances) chiêm tinh học. Chúng ta sẽ không làm việc với các bí huyệt ở phần dưới cột sống, cũng không nhắm vào việc sử dụng chúng một cách hữu thức như người có nhãn-thông và nhĩ-thông đang làm. Tất cả công việcđạo sinh thực hiện phải được tiến hành hoàn toàn ở trong đầu và từ đầu (in the head and from the head). Ở đó là trung tâm của Ý-Chí (Will), hay trạng thái Tinh Thần, đang tác động qua linh hồn. Nơi đó cũng là sự biểu lộ tổng hợp của phàm-ngã, và trong sự hiểu biết về mối liên quan của hai bí huyệt đầu và sự tương tác lẫn nhau của chúng sẽ dần dần đi đến sự thống trị của linh hồn đối với phàm-ngã. Điều này sẽ dẫn đến hoạt động tất nhiên và được tác động tiếp theo sau của năm bí huyệt khác. Hoạt động trong năm bí huyệt này cuối cùng cũng sẽ trở nên tự động như sự vận hành hiện tại của tim và phổi trong thể vật chất.
Đấng Thông Tuệ đang chủ trì, tức Chân Ngã, ”ngự trên ngai giữa hai lông mày”được hướng dẫn bởi Ánh Sáng trong đầu, sẽ nhận ra các quan tâm của linh hồn, và cũng tỉnh táo như “Ngã thức” của người bình thường còn tập trung vào tự ngã. Bằng sự nhịp nhàng của sự sống thiêng liêng của mình, và bằng sự hợp tác có ý thức của y với Thiên Cơ, và hoạt động qua việc sử dụng Ý Chí (Will), đệ-tử đang trong luân hồi phải hoạt động với tư cách là tác nhân của linh hồn mình trong ba cõi thấp.

6. Các bài tập thở (LVHLT, 207).

Dần dần khi sự tiến bộ được thực hiện, giáo huấn cần thiết sẽ được truyền đạt. Tuy nhiên, hãy để Tôi lưu ý rằng không một bài tập thở nào có thể được dùng một cách an toàn mà không có nỗ lực áp đặt nhịp điệu lên cuộc sống mỗi ngày. Hai hoạt động phải đi đôi với nhau.
Hiệu quả của các bài tập thở rất đa dạng:
a/ Có một hiệu quả thêm oxy vào. Dòng máu được thanh lọc và áp lực được giảm hạ. Một sự tượng trưng ẩn dưới việc này: − vì giống như máu được thêm oxy, thì cũng thế, sự sống của con người trong ba cõi thấp được thấm nhuần bởi năng lượng tinh thần.
b/ Có sự áp đặt một nhịp điệu đặc biệt, được gây ra do sự giới hạn về khoảng cách và thời gian đặc biệt của các hơi thởhít vào, giữ lại và thở ra – và nhịp điệu này sẽ thay đổi tùy theo các số đếm.
c/ Có một hiệu quả tinh vi của prana (vốn yếu tố chủ quan nằm bên dưới không khí hít vàothở ra) ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến thể prana, tức là thể sinh lực hoặc thể dĩ thái. Đạo sinh nên nhớ rằng các hiệu ứng tinh anh vốn mạnh mẽ hơn là các hiệu ứng vật chất. Chúng tạo ra các kết quả theo 2 hướng, trên thể vật chất và trên thể dĩ thái. Toàn bộ thể sinh lực mang một nhịp điệu riêng biệt tùy theo các bài tập thở. Nhịp điệu này được giữ vững trong một thời gian dài sẽ có một hiệu ứng phá vỡ hoặc gắn kết trên thể xác, và làm suy nhược (devitalise) hoặc đem lại sinh khí (vitalise) cho thể dĩ thái một cách tương ứng.
d/ Có tác dụng trên các bí huyệt, vốn có hiệu quả nhất và vốn đi theo xu hướng suy tưởng của người tìm đạo. Ví dụ, nếu một người nghĩ đến huyệt đan điền, thì bí huyệt đó tất nhiên sẽ được truyền sinh lựcbản chất cảm xúc của y sẽ được tăng cường. Vì vậy điều cần cho các đạo sinhgiữ việc thiền của họ ổn định trong đầu và do đó đánh thức bí huyệt đầu.
Mong rằng không ai nghi ngờ về tác dụng của các bài tập thở trên thể sinh lực. Cũng chắc chắn như việc ăn và uống xây dựng hoặc phá hủy thể xác, và trợ giúp hoặc cản trở sự vận hành đúng đắn của nó, cũng thế, các bài tập thở tạo ra các tác dụng mạnh mẽ, nếu được vận dụng đúng đắn trong một thời gian đủ dài.

 

Qui Luật Sáu (LVHLT, 211)

Chư thiên của bốn cõi thấp cảm nhận được thần lực khi con mắt mở ra; họ được thôi thúc tới trước và đánh mất vị chủ nhân của mình.

Hoạt động của mắt.

Qui Luật Sáu

HOẠT ĐỘNG CỦA MẮT

Qui Luật mà sự thành công hoàn toàn của mọi công việc huyền thuật đều tùy thuộc vào đó.
Chìa khóa nằm trong từ ngữ sự nhập định (contemplation) có trong qui luật trước. Động từ nhìn ngắm và suy ngẫm (to contemplate) bao hàm tầm nhìn vững vàng, nhất tâm hướng về một mục tiêu đặc biệt. Linh hồn hay thái dương thiên thần (Solar Angel) có thể được coi là đang nhìn chăm chú theo ba hướng.
1. Hướng về Ánh Sáng Cao Cả (Light Supernal), hướng tới Sự Sống trung tâm hay là Năng Lượng đang che giấu bên trong Chính Nó mục đích và kế hoạch mà toàn thể Sự Sống (Being) đang hướng tới. …
2. Vượt trên lĩnh vực mà trong đó Thái Dương Thiên Thần ngự trị tối cao, vượt trên cõi giới của linh hồn, hoặc các xung lực của Chân Ngã, của công việc của Thánh Đoàn và của tư duy thuần túy. Đây là Thiên Giới (Kingdom of God), cõi giới của Thực Thể cõi trời. Đó là trạng thái mà các đệ-tử đang bắt đầu ngày càng biết đến nhiều, mà trong đó các điểm đạo đồ hoạt động, và từ đó mà các Chân Sư trong mọi đẳng cấp điều khiển diễn trình tiến hóa của hành tinh. Hai hướng này mà linh hồn đang dõi theo, tạo thành thế giới của kinh nghiệm tâm linh của nó và mục tiêu cho đạo tâm của linh hồn. … Cũng như chỉ con người hoàn toàn sáng suốt mới có thể bắt đầu hoạt động một cách có ý thức như một linh hồn, và tiếp xúc với giới linh hồn, vì thế chỉ có linh hồn hoàn toàn chủ động và có ưu thế, trong đó nguyên khí bồ đề đang kiểm soát mạnh mẽ, mới có thể bắt đầu tiếp xúc với trạng thái của Bản Thể thuần khiết, trong đó Chân Thần (monad) hoặc tinh thần đời đời an nghỉ (rests).
Sự phát triển trí tuệ nơi con người đánh dấu sự thích hợp của y đối với công việc bước lên Thánh Đạo, trở lại với ý thức linh hồn đầy đủ….
3. Hướng thứ ba mà linh hồn nhìn vào và trong đó y thực hành khả năng quán chiếu thiền định (contemplative vision) là hướng tới hình ảnh của mình trong ba cõi thấp. Mục đích của cuộc đấu tranh lâu dài giữa chân ngã với phàm-ngã (lower man) là làm cho phàm-ngã đáp ứng và ý thức một cách nhạy bén với các lực phát ra từ linh hồn khi linh hồnthiền định” (“contemplates”) về ba khí cụ của mình.

Có một sự liên quan lý thú giữa ba “hướng chiêm niệm” này và sự khơi hoạt trong ba bí huyệt chính. Điều này không thể được ám chỉ nhiều hơn do tính trừu tượng của vấn đề. Rất nhiều yếu tố chi phối sự khơi hoạt này, và mỗi người tìm đạo phải tự xác định cho mình trình tự và phương thức khơi hoạt của mình.

Bí huyệt giữa hai lông mày thường được gọi là con mắt thứ ba, có một chức năng độc đáo và đặc biệt. Như tôi đã vạch ra ở nơi khác, các đạo sinh không được lầm lẫn tuyến tùng quả với con mắt thứ ba. Chúng có liên quan nhưng không phải như nhau. Trong bộ Giáo Lý Bí Nhiệm, hình như chúng được coi là như nhau, và người đọc sơ ý có thể dễ dàng lầm lẫn chúng, nhưng chúng không giống nhau chút nào. H.P.B. đã biết điều này, nhưng sự nhầm lẫn hiển nhiên này được cho phép cho đến khi người ta biết nhiều hơn về bản chất dĩ thái của các hình tướng. Con mắt thứ ba biểu hiện như là một kết quả của sự tương tác rung động giữa các mãnh lực của linh hồn, tác động xuyên qua tuyến tùng quả, với các lực của phàm ngã, tác động xuyên qua tuyến yên. Các lực tiêu cực (negative) và tích cực (positive) này tác động lên nhau, và khi đủ mạnh, sẽ tạo ra ánh sáng trong đầu. Giống như mắt xác thịt xuất hiện để đáp ứng với ánh sáng mặt trời, vì thế mắt tinh thần cũng xuất hiện để đáp ứng với ánh sáng của mặt trời tinh thần. Khi người tìm đạo phát triển, y bắt đầu ý thức về ánh sáng. Tôi đề cập đến ánh sáng trong mọi hình tướng, bị che đậy bởi tất cả các lớp vỏ (sheaths), và các biểu lộ của sự sống thiêng liêng, chứ không chỉ đề cập đến ánh sáng bên trong bản thân người tìm đạo. Khi sự nhận thức của y về ánh sáng này tăng lên, qua đó bộ máy linh thị phát triển, và cơ cấu mà nhờ đó y có thể nhìn thấy sự vật trong ánh sáng tinh thần, xuất hiện trong thể dĩ thái.
Đây là mắt của Shiva, vì mắt đó chỉ được hoàn toàn sử dụng trong công tác huyền thuật khi trạng thái Chân Thần, tức trạng thái ý chí, đang kiểm soát.

Nhờ vào con mắt thứ ba, linh hồn hoàn thành ba hoạt động:
1. Đó là mắt của linh thị (vision). Nhờ nó, con người tinh thần nhìn thấy đằng sau các hình thức của mọi khía cạnh của sự biểu lộ thiêng liêng. Y bắt đầu nhận thức được ánh sáng của thế giới, và tiếp xúc với linh hồn bên trong mọi hình hài. Giống như mắt hồng trần ghi nhận các hình hài, cũng thế mắt tâm linh ghi nhận sự chiếu sáng bên trong các hình hài này, mà “sự chiếu sáng” đó cho thấy một trạng thái đặc thù của sự sống. Nó mở ra thế giới đầy ánh sáng chói lọi.
2. Đó là yếu tố kiểm soát công việc huyền thuật. Tất cả công việc huyền linh thuật đều được xúc tiến với một mục đích kiến tạo nhất định, có thể thực hiện qua việc sử dụng ý chí sáng suốt. Nói cách khác thì linh hồn hiểu biết thiên cơ, và khi sự chỉnh hợp được chính xác và thái độ được đúng đắn, thì trạng thái ý chí của thiên nhân (divine man) có thể hoạt động và mang lại các kết quả trong ba cõi thấp. Cơ quan được sử dụng là con mắt thứ ba. Sự tương tự với điều này có thể được nhìn thấy trong năng lực thường được ghi nhận của mắt người khi nó kiềm chế những người khác và các con vật bằng một cái nhìn, và qua cái nhìn chăm chăm có thể tác động có tính từ lực. Sức mạnh tuôn ra qua mắt người được chú định. Thần lực tuôn ra qua con mắt thứ ba được chú định.
3. Nó có một trạng thái hủy diệt và năng lượng tuôn ra qua con mắt thứ bathể có một tác dụng làm tan rã và phá hủy.
Qua sự tập trung chú ý của nó, được hướng dẫn bởi ý chí sáng suốt, nó có thể đuổi đi chất hồng trần. Đây là tác nhân (agent) của linh hồn trong công việc thanh lọc (purificatory work).
Nơi đây, cần lưu ý rằng trong mỗi thể tinh anh trong ba cõi thấp đều có một điểm tập trung tương ứng, và bí huyệt giữa hai lông mày chỉ là đối phần vật chất (vì chất dĩ thái vốn là vật chất) của các tương ứng bên trong.
Xuyên qua điểm tập trung này, linh hồn quán chiếu hoặc chiêm nghiệm về cõi trí, kể cả cơ chế trí tuệ. Tương tự như vậy trên cõi tình cảm, linh hồn được đưa vào một trạng thái nhận thức hoặc tầm nhìn của lớp vỏ tình cảm của nó và thế giới các hiện tượng cảm dục, còn thể xác thì tồn tại song hành đối với thể dĩ-thái.

Chính công việc thứ ba này của linh hồn hiện được đề cập đến ở đây, đó là công việc hủy diệt để tống khứ các hình thức cũ kỹ, để tống ra khỏi các thể loại vật chất có bản chất không mong muốn, và để phá bỏ các rào cản và các hạn chế đối với hoạt động linh hồn thực sự.

Ba hoạt động này của linh hồn, qua trung gian của con mắt thứ ba, là các tương ứng với ba trạng thái, và các đạo sinh sẽ thấy thích thú khi khai triển ba hoạt động này.

Việc nhìn thấy ánh sáng bên trong mọi hình tướng nhờ tác dụng của con mắt thứ ba (được diễn ra thông qua sự nhận thức ánh sáng trong đầu, tức ánh sáng tinh thần) chỉ là sự tương ứng với mắt xác thịt, tiết lộ các hình thức dưới ánh sáng của mặt trời vật chất. Điều này tương ứng với phàm-ngã.
Khía cạnh kiểm soát qua năng lượng từ tính và lực hấp dẫn trong mắt tinh thần, vốn là yếu tố chi phối trong công tác huyền thuật, là sự tương ứng với linh hồn. Theo một ý nghĩa huyền bí nhất, linh hồnmắt của Chân Thần, giúp cho Chân Thần, vốn là Thực-Thể (Being) thuần khiết, hoạt động, tiếp xúc, hiểu biết và nhìn thấy.
Khía cạnh hủy diệt là sự tương ứng với Chân Thần hay là trạng thái ý chí; suy cho cùng, chính Chân Thần mới mang lại sự trừu xuất cuối cùng, hủy diệt mọi hình hài, triệt thoái chính nó ra khỏi sự biểu lộ và kết thúc chu kỳ hoạt động sáng tạo.

Đưa con mắt …. Trong Qui Luật này. Con mắt thứ ba mở ra như là kết quả của sự phát triển có ý thức, chỉnh hợp đúng và dòng chảy vào (inflow) của sự sống linh hồn. Kế đó, lực kiểm soát từ tính của nó làm cho bản thân nó được cảm nhận, đang kiểm soát sự sống của các thể thấp, đẩy ra bốn hành tố thấp (gồm đất, nước, lửa, không khí) và buộc các nguyệt-tinh-quân (lunar lords) phải triệt thoái. Phàm-ngã, vốn đã làm chủ từ trước đến nay, không còn có thể kiểm soát nữa, và linh hồn nắm quyền thống trị hoàn toàn trong ba cõi thấp.

Hành tố (đại tố, elemental) đất, vốn là tổng số của nhiều sự sống đang tạo thành thể xác, được kiềm chế và cảm thấy con mắt của Chủ Nhân (vị Chủ Nhân duy nhất trong đầu) ở trên nó. Các yếu tố thô kệch (gross elements) cấu thành thể đó bị “đuổi ra ngoài” còn các nguyên-tử hay các sự sống tốt đẹp hơn và thích hợp hơn, được gắn vào.
Hành-tố của thể cảm dục hay thể của nước (body of water) trải qua một hoạt động tương tự cộng với một ảnh hưởng ổn định, vốn mang đến một sự kết thúc tính hiếu động và sự náo động (tempestuousness) dễ thay đổi mà cho đến nay vốn đặc trưng cho nó. Qua sức mạnh từ lực đang kiểm soát của con mắt tinh thần, linh hồn cấu trúc lại thể cảm dục và giữ cho nó vững chắc và kết hợp chặt chẽ nhờ sự tập trung chú ý của linh hồn.
Một lần nữa, một tiến trình tương tự diễn ra trong thể trí. Các hình thể cũ kỹ biến mất trước ánh sáng trong trẻo mà trong đó chân nhân (spiritual man) đang hoạt động, và như Cổ Luận diễn tả:    “Linh hồn ném một cái liếc nhìn trên các hình thể của trí tuệ. Một tia sáng tuôn ra và bóng tối biến mất; các tình trạng méo mó và các hình thể xấu xa mờ đi, và mọi đốm lửa tàn lụi; người ta không còn thấy các đốm sáng nữa.
“Xuyên qua ánh sáng, con mắt đánh thức các phương cách Hiện Tồn cần thiết đi vào sự sống. Đối với đệ-tử, điều này sẽ mang đến kiến thức. Đối với kẻ vô minh không có cảm giác nào được nhận biết vì thiếu một giác quan”.
Hành-tố không khí được hiểu về mặt biểu tượng là nền tảng năng lượng vốn đang tác động thông qua các hình thức của thể dĩ thái, vốn được đề cập đến thông qua hơi thở, và được vận dụng thông qua khoa học về Thuật Điều Khí (Pranayama). Dạng hành-tố này là cấu trúc dĩ thái phức tạp, tức là các Nadis và các bí huyệt, và các đạo sinh tiến hóa đều biết rõ cách mà chúng được kiểm soát bởi sự tập trung chú ý của linh hồn trong khi nhập định, khi tác động qua bí huyệt đầu, được tập trung trong khu vực của con mắt thứ ba, và được cuốn vào hoạt động đúng đắn và đặc biệt bằng một tác động của ý chí. Trong câu trên Tôi đã tập trung công thức cho mọi công tác huyền thuật trên cõi trần. Chính là nhờ thể dĩ tháithần lực, được hướng dẫn xuyên qua bí huyệt này hoặc bí huyệt khác, mà linh hồn mới xúc tiến hoạt động trong huyền thuật.
Chính nhờ việc tập trung mãnh liệt ý định ở trong đầu, và việc chuyển sự chú ý xuyên qua con mắt thứ ba về phía bí huyệt sẽ được sử dụng, mà thần lực tìm thấy lối ra chính xác của nó. Lực đó được làm cho mạnh lên bằng ý chí sáng suốt được hướng dẫn và truyền năng lượng. Hãy nghiên cứu những điểm này, vì trong chúng, bạn sẽ tìm thấy manh mối cho công tác huyền thuật trong việc tái cấu trúc cuộc đời riêng của bạn, cho công tác huyền thuật của việc tái cấu trúc con người mà một vài Chân Sư đang xúc tiến, và cho công tác huyền thuật của sự phát triển của Thiên Cơ, vốn là mãnh lực thôi thúc của Huyền Giai huyền bí.

 

* CÁC HOẠT ĐỘNG BẢN NĂNG CỦA CON NGƯỜI (LVHLT, 625)

– Để làm điều này (Các nhược điểm của môn sinh trên đường đạo), cần phải có lòng can đảm thuộc loại hiếm có nhất. Sự sợ hãi nắm giữ thế giới trong cảnh nô lệ, và không ai được miễn trừ ảnh hưởng của nó. Đối với người tìm đạo và đối với vị đệ-tử, có 2 loại sợ hãi cần được đặc biệt xem xét. Những sự sợ hãi mà chúng ta đã bàn đến trong phần trước của bộ luận này (LVHLT), và các nỗi sợ cố hữu, như bạn biết, trong chính cuộc sống, đều quen thuộc với tất cả chúng ta. Chúng có gốc rễ của chúng trong tính chất bản năng (các lo ngại về kinh tế, các lo ngại phát sinh từ đời sống tính dục, lo sợ và khiếp hãi thuộc về thể chất, sợ cái không biết, với sự sợ hãi nổi bật nhất về cái chết đang nhuộm màu rất nhiều cuộc sống) và đã là chủ đề của nhiều nghiên cứu về tâm lý học ……

Chúng sẽ bị khắc phục bằng sự sống của linh hồn khi linh hồn thấm nhập và biến đổi cuộc sống hằng ngày, và bằng việc người tìm đạo không chấp nhận bất cứ nhận thức nào của chúng.

a. Phương pháp thứ nhất: xây dựng hướng tới sức mạnh tương lai của tính cách, và ngăn ngừa sự xuất hiện của bất kỳ nỗi sợ hãi mới nào. Chúng không thể tồn tại khi linh hồn kiểm soát cuộc sống và các hoàn cảnh của mình một cách có ý thức.

b- Phương pháp thứ hai là vô hiệu hóa các hình-tư-tưởng cũ, và cuối cùng mang lại sự hủy diệt của chúng do thiếu chất dinh dưỡng.

* Bạn cần chinh phục các bản năngNhư bạn biết, các nhà tâm lý học liệt kê năm bản năng chính vượt trội, và chúng ta sẽ đề cập đến chúng một cách rất vắn tắt.
1. Bản năng tự bảo toàn (instinct of self – preservation) có nguồn gốc của nó trong nỗi sợ hãi bẩm sinh về cái chết; do có sự sợ hãi này mà nhân loại đã chiến đấu theo cách của nó đến mức hiện tại của nó về tuổi thọ và sức chịu đựng. Các ngành khoa học bận tâm đến việc bảo toàn sự sống, kiến thức y học hiện đại, và những thành tựu của sự tiện nghi văn minh, tất cả đã phát triển từ nỗi sợ hãi cơ bản này. Tất cả đã hướng tới sự tiếp tục tồn tại của cá nhân, và hướng đến điều kiện duy trì sự tồn tại (being) của y. Nhân loại tiếp tục tồn tại, với tư cách một giống loài và một giới trong thiên nhiên, là một kết quả của xu hướng sợ hãi này, phản ứng có tính bản năng này của đơn vị nhân loại đưa đến sự tự tồn mãi mãi (selfperpetuation).
2. Bản năng giới tính (instinct of sex), có gốc rễ chính của nó trong sự sợ hãi về sự tách biệt và sự cô lập, và trong một sự nổi dậy chống lại tính đơn nhất chia rẽ trên cõi trần, chống lại sự cô độc (aloneness); và nó đã dẫn đến việc tiến tới trước của nhân loại và sự tiếp tục tồn tại và sự nhân giống của các hình hài mà nhờ đó nhân loại có thể đi vào sự biểu lộ.
3. Bản năng sống bầy đàn (herd instinct) có thể dễ dàng được thấy là có gốc rễ của nó trong một phản ứng tương tự; vì cảm giác an toàn và vì sự an ninh được bảo đảm và được tin chắc – dựa trên những tập hợp về số lượng – con người đã luôn luôn tìm đến loại riêng của họ và sống thành bầy nhóm với nhau để phòng vệ, và để ổn định kinh tế. Nền văn minh hiện đại của chúng ta là kết quả từ phản ứng do bản năng này của nhân loại nói chung; các trung tâm rộng lớn của nó, các thành phố khổng lồ và các khu chung cư tập trung của nó đã xuất hiện, và chúng ta có việc sống theo bầy đàn hiện đại, được đưa đến bậc thứ n (nth degree).
4. Bản năng lớn thứ tư, là bản năng tự khẳng định (selfassertion), cũng dựa trên sự sợ hãi; nó bao hàm sự sợ hãi của cá nhân rằng y sẽ không nhận thức được và như thế mất đi nhiều thứ mà nếu không thì sẽ thuộc về y. Theo thời gian qua, sự ích kỷ của nhân loại đã phát triển như thế đó; ý thức về tính hám lợi của nhân loại đã phát triển và năng lực nắm lấy cơ hội đã xuất hiện (“ý muốn quyền lực” dưới hình thức này hoặc hình thức khác), đến ngày hôm nay chúng ta có chủ nghĩa cá nhân mạnh mẽ, và ý thức tích cực về tầm quan trọng vốn đã tạo ra nhiều sự rắc rối về kinh tế và quốc gia thời hiện đại. Chúng ta đã vun trồng tính tự quyết, tính tự khẳng định và tính tư lợi, cho đến khi chúng ta bị gặp phải một khó khăn hầu như không thể vượt qua. Nhưng ngoài mọi điều đó, nhiều điều tốt lành đã đến và sẽ đến, vì không có cá nhân nào có giá trị cho đến khi y nhận thức giá trị đó cho chính y, và lúc bấy giờ, một cách dứt khoát, y hy sinh các giá trị đã hoạch đắc cho lợi ích của tổng thể.
5. Đến lượt bản năng tìm hiểu (instinct to enquire) được dựa trên sự sợ hãi cái không biết, nhưng ngoài sự lo sợ này, đã xuất hiện – như là kết quả của cuộc tìm hiểu lâu đời – những hệ thống giáo dụcvăn hóa và toàn bộ cấu trúc về nghiên cứu khoa học của chúng ta hiện nay.
Những xu hướng, dựa trên sự sợ hãi (vì con người vốn thiêng liêng) đã tác động như một sự kích thích phi thường của toàn bộ bản chất của con người, và đã đưa y tiến tới đến trình độ hiểu biết và hữu dụng rộng rãi hiện tại của y, chúng đã tạo ra nền văn minh hiện đại của chúng ta với mọi khuyết điểm của nó, và tuy thế, với mọi thiên tính được biểu thị của nó. Từ những bản năng này được đưa tới vô cùng tận, và từ tiến trình chuyển hóa của chúng thành các tương ứng cao hơn của chúng, Sự nở hoa trọn vẹn của sự biểu lộ của linh hồn sẽ xuất hiện. Tôi muốn nêu ra những điều sau đây:
Bản năng tự bảo toàn tìm được tuyệt đỉnh của nó trong tính chất bất tử chắc chắn, và về việc này, công việc mà các nhà duy linh (spiritualists) và các nhà sưu khảo tâm linh đảm trách theo các thời đại là phương pháp tiếp cận và sự đảm bảo chắc chắn.
Bản năng phái tính đã thể hiện và tìm thấy tuyệt đỉnh hợp lý của nó trong mối quan hệ − được nhận thức một cách hữu thức – của linh hồnthể xác. Đây là ý chủ đạo (keynote) của chủ nghĩa thần bí và tôn giáo, mà ngày nay, cũng như luôn luôn, là sự biểu lộ của Luật Thu Hút (Law of Attraction), không phải khi nó tự thể hiện qua hôn nhâncõi trần, mà khi nó tìm thấy tuyệt đỉnh của nó (đối với con người) trong cuộc hôn nhân siêu phàm được tiến hành với mục đích hữu thức giữa linh hồn dương với sắc tướng âm và có tính tiếp thu.
Bản năng sống bầy đàn tìm thấy tuyệt đỉnh thiêng liêng của nó trong một ý thức tập thể được khơi hoạt, ngày nay điều đó được chứng tỏ trong xu hướng chung hướng tới những sự pha trộn (amalgamations), và sự dung hợp và trộn lẫn rộng rãi vốn đang diễn ra ở khắp mọi nơi. Nó thể hiện trong khả năng suy tư dưới dạng chủ nghĩa quốc tế, các quan niệm phổ biến, mà cuối cùng sẽ dẫn đến việc thiết lập tình huynh đệ đại đồng.
Bản năng tự khẳng định, đến lượt nó, đã cung cấp cho nền văn minh hiện đại của chúng ta chủ nghĩa cá nhân mạnh mẽ của nó, sự sùng bái thần tượng, và tạo ra sự thờ cúng tổ tiên và tôn sùng anh hùng. Tuy thế, nó đang dẫn tới sự khẳng định về Bản Ngã (Self), về Chủ Thể Cai Trị thiêng liêng ở nội tâm, và từ khoa tâm lý học mới mẻ nhất của chúng ta, sẽ xuất hiện một kiến thức về Chân Ngã (spiritual Self) tự tin và chi phối, và cuối cùng dẫn đến sự biểu lộ của giới linh hồn trên trần thế.
    Và điều gì về bản năng cần tìm hiểu? Được chuyển hóa thành sự nghiên cứu thiêng liêng và được biến đổi bởi việc áp dụng ánh sáng linh hồn trong lĩnh vực điều nghiên, chúng ta sẽ có nhân loại được tiến vào Phòng Minh Triết, và như thế con người sẽ bỏ lại sau những kinh nghiệm của Phòng Kiến Thức. Các trung tâm giáo dục lớn của chúng ta sẽ trở thành các trường học cho sự phát triển nhận thức trực giác và hiểu biết tâm linh. (LVHLT, 629)

Đạo sinh cần nghiên cứu kỹ lưỡng bảng sau đây(LVHLT, 629):

    Bản năng Sự tương ứng  ……………           Phương cách
1. Tự bảo tồn Tính bất tử       ……………           Duy linh. Tìm tòi.
2. Giới tính Hợp nhất tinh thần Tôn giáo
Sự nhất quán   ……………           Thuyết thần bí.
3. Sống bầy đàn Tập thể thức    ……………           Tình huynh đệ.
4. Tự khẳng định Sự khẳng định Bản Tâm lý học.
Ngã
5. Điều nghiên Trực giác         ……………            Giáo dục.

===> Như vậy những nỗi sợ hãi đang bao vây nhân loại, có nguồn gốc của chúng trong những bản năng.