Luận Về Chánh/ Huyền Linh Thuật (P 2)


Chia sẻ:

TÓM LƯỢC SÁCH LUẬN VỀ CHÁNH THUẬT
(LUẬN VỀ HUYỀN LINH THUẬT)

TIẾP THEO PHÂN 1
(Xem Phần 1 tại đây)

SỰ THÀNH LẬP THÁNH ĐOÀN

 

+ 5. Điều đó đã được quyết định vào khoảng 17.000.000 năm trước (sự xuất hiện của Thánh Đoàn và sự thành lập Shamballa ở khoảng mười tám triệu rưỡi năm trước) để có trên cõi trần trọng trược một tổ chức, và một đại bản doanh cho các bí pháp, và để có một nhóm gồm các Adepts, và các Chohans, những Đấng sẽ hoạt động trong các thể vật chất trọng trược, và nhờ đó đáp ứng với nhu cầu của nhân loại đang thức tỉnh nhanh chóng…

6. Tiền đồn đầu tiên cho Huynh Hữu Bạch Ngọc Cung (Shamballa Fraternity) là Thánh Điện Ibez nguyên thủy và nó nằm ở trung tâm của Nam Mỹ, và một trong những chi nhánh của nó ở một thời kỳ rất lâu sau đó đã được tìm thấy trong các cơ sở (institutions) Maya cổ đại, và việc tôn thờ cơ bản là Mặt Trời, với vai trò là nguồn sống trong tim của tất cả mọi người. Một chi nhánh thứ hai sau đó đã được thành lập ở Châu Á, và các Chân Sư của Himalaya và vùng phía Nam Ấn Độ là các đại diện của nhánh này, mặc dù công việc được thay đổi một cách đáng kể. (LVHLT, 378)

+ Đây sẽ là một điểm quan trọng cần phải tính đến, vì nhóm các thần bí gia này đang mỗi năm mỗi trở nên mạnh mẽ hơn.
− Các Năng Lượng Hành Tinh phát ra từ:
a/ Bảy hành tinh.
b/ Trái Đất.
c/ Mặt trăng.
Chỉ có một vài điều có thể được lưu ý về tiết đoạn nói về các năng lượng này và về tiết đoạn kế tiếp, vì đây là một loạt các hướng dẫn cho người tìm đạo chứ không phải là một luận thuyết về năng lượng.
Năng Lượng Mặt Trời phát ra từ:
a/ Mặt trời vật chất.
b/ Các nguồn vũ trụ.
Trong mọi tư tưởng liên quan đến các năng lượng này, cần nhớ rằng chúng được chuyển đến chúng ta thông qua, hay đúng hơn là chúng tạo thành các thể của một số sinh linh mà chúng ta gọi là các devas, trong các nhóm lớn và nhỏ hơn của họ, và do đó chúng ta vào mọi lúc đều đang hoạt động trong các thể (bodies) của các sinh linh này và do đó ảnh hưởng đến họ. Vì vậy, một số bạn vốn đã nghiên cứu bộ Luận Về Lửa Càn Khônthể nhận thấy các chi tiết sau là đáng chú ý:
1. Các loại devas thấp nhất hay các nhà kiến tạo trên Con Đường Tiến Hóa thăng thượng là các thiên thần màu tím; kế tiếp là các thiên thần màu xanh lá cây, và cuối cùng là các thiên thần trắng (white devas). Tất cả các thiên thần này đều bị chi phối bởi một nhóm đặc biệt thứ tư. Các thiên thần này kiểm soát các tiến trình bên ngoài của sự sống ở cõi trần.
2. Tuy nhiên, không được quên rằng ở một giai tầng thấp hơn của thang tiến hóa, là những nhóm sinh linh khác, được gọi sai là devas, họ làm việc tuân theo thiên luật, và được kiểm soát bởi các thực thể cao hơn. Chẳng hạn như, có các hình thể dày đặc hơn của sự sống khí hơi, thường được gọi salamanders, tức là hỏa-tinh-linh (elemental of the fire). Các tinh linh này ở dưới sự kiểm soát trực tiếp của Hỏa Tinh Quân (Lord Agni), là vị Chúa Tể của cõi trí (Lord of the mental plane), và trong kỷ nguyên trí tuệ này, chúng ta có yếu tố lửa (hành hỏa) nhập vào quy trình sống mà trước đây không bao giờ có. Loại bỏ những sản phẩm được kiểm soát bởi nhiệt (heat) và bạn sẽ đưa nền văn minh của chúng ta đến một trạng thái dừng lại, bạn sẽ đưa mọi phương tiện vận chuyển đến một kết thúc cùng với mọi phương cách chiếu sáng; bạn sẽ vứt bỏ tất cả các nhà máy chế tạo. Ngoài ra, về cơ bản, những sinh linh lửa (fiery lives) này, được tìm thấy trong tất cả những gì bốc cháy, và trong sự ấm áp vốn nắm giữ việc hình thành mọi sự sống trên trái đất, và đem lại sự phát triển tốt đẹp cho tất cả các vật sống. (LVHLT, 389)

+ Các đặc điểm của cá nhân vốn đang bắt đầu hoạt động như một phàm-ngã có thể được liệt kê vắn tắt như sau. Chúng đơn giản, rõ ràng và ích kỷ một cách rõ rệt. Đừng nên quên rằng bước đầu tiên trên con đường dẫn đến tính cá nhân tất yếu là tính ích kỷ. Cũng nên nhớ kỹ rằng trở ngại đầu tiên đối với phàm-ngã tiến bộ và tiến hóa cao là tính cá nhân hay là việc kéo dài thái độ ích kỷ. Do đó, các đặc điểm theo sự phát triển tuần tự của chúng như sau:
1. Khả năng nói: tôi là, tôi ước muốn, tôi mong muốn, tôi quyết chí.
2. Ý thức ở nơi trung tâm của vũ trụ nhỏ bé của con người. “Các Cõi Trời di chuyển xung quanh tôi, và các ngôi sao quay theo các con đường của chúng quanh tôi” là phương châm của giai đoạn này.
3. Ý thức về những biến cố (drama) và khả năng tự hình dung mình như là trung tâm của môi trường của mình.
4. Ý thức trách nhiệm và khả năng xem các thành viên xung quanh của gia đình nhân loại là phụ thuộc vào mình.
5. Ý thức về tầm quan trọng – kết quả tự nhiên của những điều ở trên. Việc này thể hiện thành sức mạnh và ảnh hưởng nơi nào có một thực thể thực sự và luôn luôn thức tỉnh đàng sau nhân vật (persona), và thể hiện thành sự khoe khoang và sự khoa trương nơi nào mà một tạo vật bé nhỏ ích kỷ hoạt động.
6. Khả năng sử dụng toàn bộ năng lực để cho thể trí và não bộ hoạt động đồng bộ, và do đó mà bản chất tình cảm bị phụ thuộc, bị ngăn chận hoặc bị kiểm soát. Điều này bao hàm sự phát triển ổn định của khả năng sử dụng tư tưởng.
7. Khả năng sống một cuộc đời được phối kết sao cho toàn bộ con người hoạt động và được hướng dẫn bởi mục đích (biểu lộ năng lượng ý chí), bởi mong muốn (biểu lộ năng lượng của bản chất tình cảm hay bản chất tâm linh), và bằng sức sống vốn lôi cuốn hiện thể vật chất đi theo mục đích và mong muốn.
8. Năng lực gây ảnh hưởng, chi phối, hướng dẫn và nắm giữ những kẻ khác trong phạm vi của mục đích cá nhân và mong muốn cá nhân.

Khi giai đoạn này đã đạt tới, ba năng lượng vốn tạo ra một phàm-ngã đã được hòa hợp và kết hợp thành công, và bộ máy hoặc khí cụ của bản ngã nội tại trở thành một tài sản tiện lợi và đáng giá. Con người là một nhân vật đầy uy lực và trở thành trung tâm của một nhóm; y nhận thấy mình là một tâm điểm cho các sự sống khác, và là một cá nhân có ảnh hưởng lôi cuốn, chi phối những người khác, phối hợp các đơn vị nhân loại thành các nhóm và các tổ chức. Y trở thành người đứng đầu của các tổ chức và của các đảng phái, của các đoàn thể tôn giáo và chính trị, và của các quốc gia trong một số trường hợp. Như thế các phàm-ngã vượt trội xuất hiện và nhận thấy sở trường của họ; do đó họ phát hiện sự dị biệt giữa trung tâm quyền lực, tức bản ngã, với khí cụ (equipment); cuối cùng họ bắt đầu ý thức về thiên hướng (vocation) theo ý nghĩa thực sự của thuật ngữ này. (LVHLT, 393)

+ Do đó trong sự phát triển tuần tự của nhân loại, bạn có các giai đoạn sau:

1. Giai đoạn ý thức động vật.
2. Cá nhân được an trụ vào tình cảm, có tính ích kỷ và bị chi phối bởi dục vọng.
3. Hai giai đoạn trên, cộng với một hiểu biết trí tuệ ngày càng tăng về các tình huống chung quanh.
4. Giai đoạn có trách nhiệm với gia đình hoặc bạn bè.
5. Giai đoạn của tham vọng và của sự khao khát đối với ảnh hưởng và quyền lực trong một lĩnh vực biểu hiện nào đó của con người. Điều này dẫn đến nỗ lực mới.
6. Sự phối-kết năng lực phàm-ngã dưới tác nhân kích thích ở trên.
7. Giai đoạn ảnh hưởng được vận dụng một cách ích kỷ và thường có tính chất phá hoại, bởi vì cho đến nay những vấn đề cao siêu không được ghi nhận.
8. Giai đoạn có một ý thức tập thể phát triển đều đặn.

Giai đoạn này được xem như là:
a/ Một lĩnh vực cho cơ hội.
b/ Một địa hạt phụng sự.
c/ Một nơi mà trong đó sự hy sinh vì lợi ích của mọi người trở nên có thể xảy ra một cách vinh quang.
Giai đoạn sau cùng này đặt một người lên con đường đệ-tử, không cần phải nói rằng nó bao gồm giai đoạn của thời kỳ trước đó, là thời kỳ dự bị hay thử thách.

Vấn đề là việc xác định ở bước nào của thang tiến hóa và trong giai đoạn nào mà người ta thấy được sở trường của mình tại một thời điểm đặc biệt nào đó.(LVHLT, 397)

ĐOÀN NGƯỜI MỚI PHỤNG SỰ THẾ GIAN

+ Các nhóm này nói chung rơi vào bốn phân chia chính: thuộc về văn hóa, chính trị, tôn giáokhoa học. Trong các thời kỳ cận đại hơn, ba nhóm khác chắc chắn đã xuất hiện, đó là các nhóm triết học, tâm lý học, và tài chính.(LVHLT, 406)

+ Các nhóm ở sau phần lớn đã hành động dưới ảnh hưởng của cung 6cung 2. Văn hóa xuất hiện dưới ảnh hưởng của cung 4, trong khi cung 1 đã thúc đẩy các hoạt động chính trị vốn đã mang lại những thay đổi như thế trong các quốc gia. Dưới ảnh hưởng của những xung lực thuộc cung 5cung 3, các nhóm những nhà nghiên cứu khoa học đã nảy sinh, làm việc với các lựcnăng lượng đang tạo thành Sự Sống thiêng liêng, liên quan đến lớp bọc ngoài (outer garment) của Thượng Đế, tìm kiếm từ ngoài hướng vào trong, và chứng minh cho con người sự hợp nhất về bản thể của y với toàn cuộc sáng tạo và mối quan hệ của y, bên trong và trọng yếu, với mọi hình thức của sự sống (LVHLT, 410)

+ Ba nhóm (Triết học – Tâm Lý học – Tài chính) mà trước đây Tôi đã nói đến cần một lời bình luận. Công việc của họ khác một cách kỳ lạ với công việc của các nhóm khác, và hàng ngũ của họ được tuyển dụng từ các nhóm của cung, mặc dù các thành viên của nhóm thứ ba (nhóm của các nhà tài chính) được nhận thấy chủ yếu thuộc cung 7, cung tổ chức nghi lễ. Theo thứ tự xuất hiện của họ thì họ là nhóm các triết gia, nhóm các nhà tâm lý học và nhóm những doanh nhân.

Hai nhóm cận đại nhất là nhóm những nhà tâm lý học đang làm việc theo huấn lệnh được khắc ở đền thờ Delphes: “Con người, hãy tự biết mình”, và nhóm các nhà tài chính, họ vốn là những người canh giữ các phương tiện mà nhờ đó con ngườithể sống trên cõi trần. Tất nhiên và mặc dù có những bất đồng và những dị biệt rõ rệt, hai nhóm này đều có tính tổng hợp trong các khía cạnh cơ bản của chúng, hơn bất kỳ nhóm nào khác. Một nhóm quan tâm đến nhân loại, đến các kiểu mẫu nhân loại khác nhau, bộ máy được vận dụng, cùng với các thôi thúc, các đặc điểm của con người, và đến mục đích – rõ ràng hoặc che giấu – của bản thể y. Nhóm kia kiểm soát và sắp đặt các phương tiện mà nhờ đó con người tồn tại, kiểm soát tất cả những gì có thể được chuyển đổi thành năng lượng, và thiết lập một chế độ chuyên chính trên tất cả các phương cách giao dịch, thương mại và hối đoái. Họ kiểm soát vô số các vật thể thuộc về sắc tướng (form-objects) mà con người hiện đại coi là thiết yếu cho lối sống của họ. Tiền bạc, như Tôi đã nói trước đây, chỉ là năng lượng hay sinh khí được kết tinh – cái mà nhà nghiên cứu phương Đông gọi năng lượng sinh khí (pranic energy). Đó là một sự cụ thể hóa của lực dĩ thái (etheric force). Do đó đó là năng lượng thiết yếu thể hiện ra ngoài (externalised), và dạng năng lượng này ở dưới sự điều khiển của nhóm tài chính. Họ là nhóm mới nhất ở tại thời điểm, và công việc của họ (nên được nhớ kỹ) được Thánh Đoàn lập kế hoạch rõ ràng nhất. Họ đang mang lại các hiệu quả vươn ra xa nhất trên cõi trần.(LVHLT, 411)

+ Hoạt động Nhóm: Công việc thiết lập sự giao tiếp này có thể thực sự là chậm chạp, nhưng đó là kết quả tất yếu của sự nhạy cảm đang tăng trưởng của mọi linh hồn đang làm việc trong phạm vi thế giới. Dấu hiệu đầu tiên của nó là sự nhận thức do bản năng của những người vốn đang tạo thành một phần của nhóm này, khi họ gặp gỡ và tiếp xúc với nhau theo những cách giao tiếp của thế gian. Một lóe sáng tức thì phát ra đến với họ, một sự tương tác điện ngay tức khắc, một sự cảm nhận đột ngột về một sự tương đồng về viễn cảnh và về mục tiêu, hoặc một cơ hội quan trọng để trợ giúp và hợp tác với nhau trong công việc mà người ta nhận thấy rằng tất cả đều quan tâm.

Do đó, điều đó phần lớn là một vấn đề về việc hoàn thiện cơ cấu của não bộ để cho nó có thể ghi nhận chính xác, và truyền chuyển đúng đắn những ấn tượng của linh hồn, các mục đích và các nhận thức của nhóm. Điều này bao gồm:

1. Việc đánh thức trung tâm lực giữa hai chân mày (mà các đạo sinh Phương Đông gọi là bí huyệt ấn đường − ajna centre) vào hoạt động có ý thức.
2. Kế đó làm cho hoạt động của bí huyệt này phụ thuộc vào hoạt động của bí huyệt đầu, sao cho cả hai rung động hòa hợp nhau. Điều này tạo thành ba điều:
a/ Sự chỉnh hợp hữu thức trực tiếp giữa linh hồnthể trí – não bộ.
b/ Sự xuất hiện của một từ trường vốn bao gồm cả hai bí huyệt đầu, và vì vậy ảnh hưởng rõ rệt đến tuyến tùng quả (pineal gland) và tuyến yên (pituitary body).
c/ Việc nhận biết lĩnh vực hoạt động kép này theo hai cách:
– Dưới hình thức một ánh sáng trong đầu, một mặt trời tỏa chiếu bên trong,
– hoặc như là một trung tâm năng lượng năng động, mà qua đó người ta có thể cảm nhận được trạng thái ý chí hay khía cạnh mục đích của linh hồn

3. Việc phát triển một khả năng vốn sẽ cho phép một người:
a/ Sử dụng thể trí theo bất kỳ chiều hướng nào mà y chọn, chuyển nó ra ngoài hướng vào thế giới hiện tượng, hoặc quay vào bên trong hướng vào thế giới của thực tại tâm linh (spiritual being).
b/ Tạo ra một cách có ý thức và tùy ý một sự đáp ứng tương ứng trong bộ óc xác thịt, sao cho nó có thể ghi nhận một cách chính xác bất kỳ thông tin nào đến từ thế giới vật chất và thế giới tình cảm hay thế giới cảm dục.
c/ Sáng suốt phân biện giữa mọi lĩnh vực của hoạt động hữu tình (sentient activity) này. (LVHLT, 422)

+ Bộ môn yoga: Trong quyển Agni Yoga, một số giáo huấn được đưa ra đã tiết lộ nhưng chỉ theo quan điểm của trạng thái ý chí. Cho đến nay, không có cuốn sách nào đã xuất hiện mà cung cấp dưới bất kỳ hình thức nào bất cứ “yoga tổng hợp” nào.
– Chúng ta đã có “Bhakti Yoga” hoặc sự hợp nhất qua lòng sùng tín.
Raja Yoga hiện đang nhận được sự chú trọng, đó là sự hợp nhất qua trí tuệ. Nghe có vẻ như một sự dư thừa khi nói về sự hợp nhất qua sự tổng hợp, nhưng không phải thế. Đó là sự hợp nhất qua sự huyền-đồng (identification, đồng nhất hóa huyền bí) với tổng thể − không phải là sự hợp nhất qua việc nhận thức hoặc qua tầm nhìn (vision).
===> Hãy chú ý rõ ràng sự phân biệt này, vì nó nắm giữ điều bí mật của bước kế tiếp đối với các phàm-ngã của nhân loại.
– Kinh Bhagavad Gita (Chí Tôn Ca) cung cấp cho chúng ta đầu tiên là bí quyết của pháp môn yoga của lòng sùng tín. Patanjali dạy chúng ta yoga về thể trí. Trong câu chuyện Phúc Âm (Gospel), chúng ta có sự mô tả về việc nhận thức, nhưng bí quyết hoặc bí mật của sự huyền-đồng vẫn còn được giữ lại. Nó nằm trong sự coi sóc của một vài người trong nhóm hội nhập của các nhà thần bí và các thức giả, và sẽ được đưa vào sự biểu lộ trong sự thử thách kinh nghiệm cá nhân của họ, và như thế được đưa ra cho thế gian. Nhưng thời gian chưa đến. Nhóm còn phải phát triển nhân sự và tri thức, và sự nhận thức trực giác. (LVHLT, 429)

+ Các NĂNG LƯỢNG phát ra từ mặt trời cũng có một tác dụng kép.
– Thứ nhất, có những năng lượng mà chúng ta có thể gọi là hiệu ứng prana, vốn là kết quả của ảnh hưởng của lực thái dương (solar force), đang phát ra từ mặt trời vật chất. Hiệu ứng này tạo ra các kết quả rõ ràng trên các hình tướng khách quan, và các năng lượng này được gọi là các năng lượng thuộc vật chất hay cần cho sự sống (physical or vital). Các năng lượng này đi vào trong thể con người xuyên qua lá lách và cũng xuyên qua một bí huyệt nằm giữa hai xương vai; bí huyệt này nằm giữa bí huyệt cổ họng và bí huyệt tim trong cột sống, nhưng gần bí huyệt tim hơn bí huyệt cổ họng.
– Thứ hai, có các năng lượng phát ra từ cái mà về mặt nội môn được gọi là “tâm của mặt trời (“heart of the sun”); các năng lượng này quét qua hết hành tinh này đến hành tinh khác theo bảy luồng lớn và cung cấp lực (power) vào linh hồn của con người, tạo ra loại nhạy cảm mà chúng ta gọi là ý thức (awareness). Bảy loại năng lượng này tạo ra bảy loại linh hồn hoặc bảy cung (rays), và theo ý tưởng này, bạn tìm thấy cái bí mật của sự hiệp nhất linh hồn. Trong khi biểu lộ, do các ảnh hưởng của bảy loại năng lượng tác động trên vật chất của không gian, người ta nhận thấy bảy loại linh hồn, bảy lĩnh vực biểu lộ, và bảy mức độ tâm thức cùng các đặc trưng của cung. Như bạn biết rõ, các biến phân này giống như màu sắclăng kính thu được khi được đưa ra trước các tia của mặt trời, hoặc được đưa ra trước mảng họa tiết của kiểu mẫu được tìm thấy trong ánh phản chiếu trên một hồ bơi trong trẻo. (LVHLT, 433)

CHIÊM TINH HỌC VÀ CÁC NĂNG LƯỢNG

+ Một nhóm các năng lượng thứ ba phải được thêm vào hai nhóm (Của mặt trời nêu trên_Nhân trắc học ghi chú) các năng lượng này, và các năng lượng này là cơ sở của nhiều nghiên cứu chiêm tinh học của chúng ta. Chúng phát ra từ mười hai chòm sao đang tạo thành vòng hoàng đạo của mặt trời chúng ta. Ảnh hưởng của chúng là vô hạn, và sự hoán đổi vị trí của ba nhóm năng lượng này dẫn đến sự phức tạp vô cùng tận mà chúng ta nhận thấy trong thiên nhiên. Những lời tuyên bố của các nhà chiêm tinh về thực tại của các năng lượng đang tác động trên thể con ngườithể được nhìn thấy là đúng; các khẳng định của họ về khả năng của họ để giải thích thì phần lớn là không có cơ sở. Những người thông minh nhất trên hành tinh thật sự biết rất ít; vì đừng quên rằng các vị adepts chủ yếu dùng trực giác. Các năng lượng này để lại dấu vết của chúng trên mọi hình hài trong mọi giới của thiên nhiên, tác động như một lực nghịch hành (retrograding) hoặc một lực kích thích (stimulating force). Chúng mang một loại năng lượng đến một sự biểu lộ đầy đủ hơn về tính chất của một hình hài nào đó, hoặc ngăn giữ lại một hình hài khác khỏi một sự biểu lộ đã phát triển. (LVHLT, 434)

+ Thật là không thích hợp ở đây để vạch ra bản chất của chiêm tinh học thực sự. Sự kiện rằng chiêm tinh học là một khoa học, và là một khoa học đầy triển vọng, là đúng thật. Sự kiện rằng chiêm tinh học trong khía cạnh cao nhất và cách diễn giải thật sự của nó, sẽ cho phép con người cuối cùng tập trung sự hiểu biết của mình và hoạt động một cách đúng đắn, thì cũng đúng. Sự kiện rằng trong những tiết lộ mà chiêm tinh học sẽ thực hiện trong thời gian sắp tới, người ta sẽ tìm thấy bí mật của sự phối hợp thực sự giữa linh hồn với hình tướng, thì cũng chính xác. Nhưng chiêm tinh học đó vẫn chưa được tìm thấy. Quá nhiều điều bị bỏ qua và quá ít điều được biết đến để làm cho chiêm tinh học thành môn khoa học chính xác mà nhiều người đòi hỏi nó phải có. Sự đòi hỏi đó sẽ được thực hiện vào một ngày nào đó trong tương lai, nhưng giờ thì chưa phải lúc.

Một vài yếu tố mà các nhà chiêm tinh nên ghi nhớ, và một vài điều kiện mà họ quá dễ quên, tuy vậy có thể được lưu ý một cách vắn tắt. Để hiểu cho rõ ràng, chúng ta sẽ chỉ liệt kê ra một số giải trình cần được nghiên cứu cẩn thận bởi 435 nhà sưu khảo bậc trung trong lĩnh vực này. Ở đây Tôi không thể viết một bộ luận về các năng lượngchiêm tinh học sẽ bàn đến một cách thật đầy đủ mà một bộ luận như vậy được đòi hỏi.

Các chiêm tinh gia quan tâm trước tiên đến ba loại năng lượng:

a/ Năng lượng của chòm saoMặt Trời được an vị nơi đó vào lúc sinh ra.

b/ Cung mệnh (rising sign) mà con người sẽ đáp ứng.

c/ Mặt trăng vốn cai quản khía cạnh hình hài của con người, và nhất là hình hài vật chất.

Năng lượng của chòm sao đặc biệt hay là cung hoàng đạo (sign) mà trong đó một người được sinh ra có ý nghĩa sâu xa hơn là ý nghĩa đã được đề xuất từ trước đến giờ. Nó tiêu biểu hoặc chỉ ra vấn đề hiện tại của y, ấn định tốc độ phát triển hoặc nhịp độ (or tempo) của sự sống của y, và có liên quan đến tính chất của phàm-ngã của y. Nó chi phối, nếu Tôi có thể diễn tả nó như thế, trạng thái động (raja) hay trạng thái hoạt động của sự sống con người trong khi lâm phàm.

Cung mệnh (ascendant or rising sign) cho thấy đường lối mà toàn bộ năng lượng của con ngườithể tuôn chảy theo đó, nếu y hoàn thành mục tiêu của một lần luân hồi nào đó. Dĩ nhiên nếu điều này được vận dụng đúng. Nó nắm giữ bí mật của tương lai của y, và theo biểu tượng và trong sự tìm hiểu về nó, y có thể tìm thấy đầu mối cho vấn đề về cuộc sống của y, và một dấu hiệu của những gì mà y có thể trở thành và thành đạt. Nó bộc lộ cho y loại thần lực vốn sẽ giúp cho y thành công. Khi được hoàn tất đầy đủ, điều này có thể được coi như tạo ra trạng thái điều hòa (sattva) hay là trạng thái hài hòa của cuộc đời y, vì khi nó thể hiện vai trò của nó và được vận dụng, nó tạo ra sự hòa hợp với ý chí của linh hồn trong bất kỳ lần luân hồi đặc biệt nào.

Trong ảnh hưởng của nguyệt cầu, chúng ta đã chỉ ra quá khứ của người được sinh ra. Nó tổng kết các hạn chế và các bất lợi mà y phải làm việc dưới các điều kiện đó, và do đó có thể được coi là tiêu biểu cho khía cạnh tĩnh (tamas) của vật chất, hay những gì vốn “ngăn giữ” và vốn – nếu được phép gây ảnh hưởng thái quá – sẽ tạo ra sự trì trệ (inertia). Trong thân thểcon người được trang bị, có ẩn giấu cái bí mật của kinh nghiệm quá khứ, và mỗi nguyệt thể (lunar form, thể cảm dục – ND) mà nhờ đó chúng ta phải đạt đến sự biểu lộ thích đáng, bản chất nó là sản phẩm hoặc sự tổng hợp của toàn bộ quá khứ. Để Tôi xem liệu Tôi có thể diễn đạt chân lý hiện nay về chiêm-tinh-học theo hình thức đơn giản đến nỗi mà những người không biết chút gì về khoa học phức tạp này cũng có thể hiểu được.

Tháng sinh cho biết ngày của thời cơ. Cánh cửa được mở ra. Tháng đặc biệt mà trong đó một linh hồn đi vào luân hồi được biểu thị cho linh hồn đó bởi tháng mà trong đó linh hồn chuyển ra khỏi luân hồi (passed out of incarnation, chết) trong một chu kỳ sống trước đây. Thí dụ, nếu linh hồn đã qua đời trong tháng được chi phối bởi cung Leo, linh hồn sẽ trở lại luân hồi trong cùng cung đó, phục hồi dòng (thread) kinh nghiệm mà linh hồn đã để nó lại, và bắt đầu với cùng một loại năng lượng và với sự trang bị đặc biệt, mà cùng với những thứ đó linh hồn đã ra khỏi kiếp sống trần gian, cộng với sự thành tựu về tư tưởng và thái độ bàng quan hữu thức (conscious onlooking). Tính chất của năng lượng và bản chất của các mãnh lực cần được vận dụng trong kiếp sống được chỉ ra cho linh hồn theo cách này.

Cung mệnh, tiêu biểu cho một loại năng lượng khác nữa, sẽ mạnh lên (wax in strength) trong khi luân hồi, vì nó chỉ ra bản chất của thần lực linh hồn, mà đứa con đang nhập thể của Thượng Đế đang tìm cách vận dụng qua trung gian của một phàm-ngã đặc biệt, sở hữu một số đặc điểm nhất định.

Ảnh hưởng của mặt trăng chủ yếu là về thể chất. Nhà tù của linh hồn được ngụ ý như thế. Các trở ngại phải gặp được gìn giữ chắc chắn như thế; loại thể xác hoặc loại của các thể (bodies) mà qua đó mãnh lực của cung bổn mạng (native’s sign), và tính chất của năng lượng vốn sẽ đưa con người đến mục tiêu của mình được xác định như thế. Con người phải tự biểu lộ trên cõi trần thông qua các nguyệt thần (lunar lords), và những gì mà các thần này đã cung cấp cho y dưới hình thức là kết quả của kinh nghiệm quá khứ trải qua nhiều thời đại.

Do tuế sai (precession) của các phân điểm (equinoxes), một tình huống được mang lại, trong đó một loại thần lực thứ tư tự biểu lộ. Thực ra thì mặt trời ở nhiều cấp độ cách xa trong vòng tròn lớn của các cõi trời, từ nơi mà nó được cho là đang hiện hữu trong phạm vi liên quan với vòng hoàng đạo lớn (greater zodiac). Dĩ nhiên, đây là theo quan điểm của thời gian. Vì đường quét của mặt trời qua một chòm sao bao gồm một chu kỳ khoảng 2200 năm, sự dịch chuyển trong tiến trình các thế kỷ là rất nhỏ, quá nhỏ để ghi nhận sự dị biệt nhỏ bé đó trong việc lấy số tử vi hành tinh. Trong việc lấy số tử vi của một thái-dương-hệ, nó sẽ rất quan trọng, nhưng điều này cho đến nay vượt quá xa khả năng của các nhà chiêm tinh thông thái nhất trên hành tinh của chúng ta, đến nỗi việc thảo luận là không quan trọng.

Tuy nhiên, khi lấy lá số tử vi của một người được sinh ra trong một tháng đặc biệt (particular month), nên nhớ rằng (vốn rất ít khi được nhớ) hiện giờ tháng và cung hoàng đạo không ăn khớp chút nào. Ví dụ, thực sự thì mặt trời không ở trong cung Leo (Hải Sư) trong tháng tám. Do đó, việc giải thích chính xác một lá số phần lớn thuộc về trắc tâm (psychometrical) và tùy vào hình-tư-tưởng của chòm sao vốn đã được tạo ra trong nhiều kỷ nguyên bởi các nhà chiêm tinh. Năng lượng theo sau tư tưởng. Trong nhiều ngàn năm qua, một số loại năng lượng và các hiệu ứng định tính của chúng gây ra trên vật chấthình hài đã được xem xét đại loại như thế. Vì vậy, chúng trở thành như thế rồi, ngoại trừ trong trường hợp của người tiến hóa cao, của người tìm đạo chân chính, tức là những người đã định hướng cho mình, và như thế thoát khỏi bánh xe của sự sống và bắt đầu chi phối các sao bổn mạng (stars) của mình, và thế là không còn dưới sự cai quản và sự thống trị của chúng nữa.

Chiêm tinh học bây giờ chủ yếu đề cập đến phàm-ngã vì đó là đối tượng mà người ta có thể lập lá số tử vi, và đề cập đến các sự kiện của sự sống phàm-ngã. Khi, nhờ tham thiền và phụng-sự, cộng với giới luật của các nguyệt thể, một người đi vào ảnh hưởng của cung linh hồn của mình một cách hữu thức và chắc chắn, lúc đó y mới chịu ảnh hưởng của một trong bảy thái-dương-hệ (seven solar systems), khi chúng tập trung năng lượng của chúng qua chòm sao này hoặc khác của các chòm sao, và rồi tới hành tinh này hoặc hành tinh khác trong bảy hành tinh thánh thiện. Cuối cùng sẽ có mười hai hành tinh thánh thiện, tương ứng với mười hai chòm sao, nhưng giờ thì chưa phải lúc. Như bạn biết, tháidương-hệ chúng ta là một trong bảy thái-dương-hệ. Khi một người đã đạt đến mức tiến hóa này, các tháng sinh, chiêm tinh học thế tục, và các ảnh hưởng đang tác động trên các khía cạnh hình hài trở thành ngày càng kém quan trọng. Quỹ đạo (circle) này của các thái-dương-hệ vô cùng ảnh hưởng đến linh hồn, và linh hồn trở thành tụ điểm của các năng lượng tâm linh. Đây là vấn đề của linh hồn trên cõi riêng của nó, − đó là sự đáp ứng với các loại năng lượng này, và, phàm ngã hoàn toàn không biết về các năng lượng đó.

Do đó, các cung (signs) rơi vào bốn loại: đất (địa), nước (thủy), lửa (hỏa) và gió (phong) có liên quan trước tiên đến người nào đang sinh hoạt phía dưới cơ hoành, và vận dụng bốn bí huyệt thấp: bí huyệt ở đáy cột sống, bí huyệt xương cùng, bí huyệt đan điền và bí huyệt lá lách. Nhóm bên trong của bảy năng lượng chính yếu hay năng lượng thái-dương-hệ tạo ảnh hưởng của chúng vào người nào đang sinh hoạt phía trên cơ hoành, và hoạt động qua bảy trung tâm tiêu biểu trong đầu. Bốn trong số đó tập trung qua bí huyệt cổ họng, bí huyệt tim, bí huyệt ấn đường và bí huyệt đầu. Ba bí huyệttrạng thái tiềm tàng trong khu vực của các bí huyệt đầu (hoa sen ngàn cánh) và chỉ đi vào hoạt động chức năng sau kỳ điểm đạo thứ ba. Do đó theo quan điểm của lá số tử vi (cũng như của vấn đề cá nhân), hiển nhiên là sự gặp gỡ này của các năng lượng của hai loại chòm sao sẽ rất phức tạp, trong trường hợp của người nào không thuần là con người mà cũng không thuần tâm linh. Lá số tử vi thông thường bị phủ nhận. Cho đến nay, lá số tử vi này không thể phác thảo ra được. Lá số tử vi duy nhất, về mặt cơ bản và đúng gần như không thể sai là lá số của một người hoàn toàn thuộc cấp thấp, sinh hoạt hoàn toàn dưới cơ hoành, và chỉ bị chi phối bởi bản chất thú tính của mình.

Các chiêm-tinh-gia cũng phải nhớ rằng có một vài hành tinh chưa được khám phá, chúng đang tạo ra các lực hút (pulls), các dịch chuyển và các dòng năng lượng tập trung trên trái đất của chúng ta, có xu hướng làm cho vấn đề phức tạp hơn nữa. Diêm Vương Tinh (Pluto) là một trong số các hành tinh đó, và hiện đã và đang biểu lộ (hay đúng hơn là được nhìn nhận) để nó sẽ được qui cho tất cả các tình trạng không giải thích được. Diêm Vương Tinh sẽ được biến thành con dê tế thần cho chiêm tinh học đầy khuyết điểm trong một thời gian dài sắp tới. Lá số (chart) này không hữu ích và thiếu chính xác bởi vì Diêm Vương Tinh phải có ảnh hưởng trong đó, mà chúng ta lại biết rất ít về Diêm Vương Tinh. Thế rồi, câu chuyện cứ tiếp diễn. Tuy nhiên, Diêm Vương Tinh đã và đang luôn luôn quay quanh mặt trời của chúng ta, và tạo ra các ảnh hưởng của nó. Tuy nhiên nó chi phối (govern) cái chết hoặc chấm dứt các ý tưởng và tình cảm cũ xưa, và do đó ảnh hưởng của nó phần lớn thuộc về trí não (cerebral) và trong đó bạn có đầu mối cho sự khám phá muộn màng về nó. Nhân loại chỉ mới ở ngưỡng của việc trở nên thiên về trí tuệ. Các ảnh hưởng của nó đang được cảm nhận trước tiên trong thể trí. Tên gọi của các hành tinh không phải là kết quả của sự lựa chọn độc đoán mà chính các hành tinh tự đặt tên cho chúng.

Cuối cùng các nhà chiêm tinh sẽ thấy là cần lấy ba lá số tử vi hay ba biểu đồ (charts):

  1. Một thuần về vật chất bàn đến thể xác (body of nature);
  2. Một chủ yếu về tình cảm, bàn đến tính chất (quality) của phàm-ngã và tính nhạy cảm của nó, hoặc trạng thái của ý thức;
  3. Lá số thứ ba sẽ là biểu đồ về các xung lực và các tình trạng trí tuệ.

Người ta thấy rằng ba biểu đồ này sẽ chứa một vài đường hình học nhất định, các tuyến năng lượng sẽ tạo thành các mô hình. Ba biểu đồ này được xếp chồng lên nhau, sẽ cung cấp sơ đồ phàm-ngã, mô hình sự sống cá nhân. Các biểu đồ mang tính biểu tượng đáng ngạc nhiên và các hình thức trực hệ (lineal) sẽ được thấy xuất hiện khi điều này được thực hiện, và “hình học của cá nhân sẽ nảy sinh ra từ đây, vì người ta sẽ thấy rằng mỗi đường (line) sẽ hoạt động liên quan đến một đường khác, và các xu hướng của các năng lượng sự sống sẽ trở nên rõ ràng. Cuối cùng, ngay cả trong bộ môn kiến thức này, “ngôi sao sẽ tỏa sáng ra”. Điều này sẽ tạo thành một chi nhánh mới của tâm lý họcngười xuất chúng thực sự của nó trong kỷ nguyên chúng ta sẽ được tìm thấy đúng lúc. Tôi chỉ trình bày sơ qua các đường lối của chiêm tinh học tương lai để bảo vệ cho chiêm tinh học hiện tại.

Một điều mà các nhà chiêm tinh cần làm vào lúc này, đó là tính cho đúng giai đoạn chuyển tiếp này: ra khỏi cung Song Ngư, tiến vào cung Bảo Bình. Điều này hiếm khi được thực hiện, nhưng rõ ràng là sự xáo động dữ dội gắn liền với các chuyển đổi này ảnh hưởng đến lá số cá nhân, và thường hóa giải vận mệnh hoặc karmanhân. Con người bị chìm đắm trong vận mệnh hành tinh và chủng tộc, và các sự việc bé nhỏ của riêng họ bị hóa giải gần như hoàn toàn và đôi khi hoàn toàn bị vô hiệu hóa. Không thể lấy số tử vi của hành tinh, những người dự định làm như vậy là lừa dối chính mình và những người khác. Lá số tử vi của giới thứ tư trong thiên nhiên, tức là của nhân loại, cuối cùng sẽ được lập, nhưng nó sẽ được thực hiện bởi các điểm đạo đồ, và không có nhà chiêm tinh được điểm đạo nào đang hoạt động trên cõi trần vào lúc này. Ở đây, Tôi đưa ra một gợi ý.

Mặt trời đã ở vào cung Nhân, khi các xu hướng đầu tiên của con người đã có cố gắng nổi bật. Giai đoạn người thú đã được hoàn tất, và khi Nhân đã chi phối (theo quan điểm hành tinh chúng ta – Tôi đang dùng các từ ngữ một cách cẩn trọng) thì biến cố vĩ đại về sự biệt-ngã-hóa (individualisation) đã diễn ra. Nhưng bộ não của con người lúc đó không ghi nhận được những gì đã xảy ra. Cổ Luận diễn tả như sau:

“Các con của Thượng Đế đã được bắn ra giống như mũi tên từ cây cung. Các hình hài đã nhận được sự thúc đẩy, và, ô kìa! (lo!) một Thượng Đế (God) đã được sinh ra. Các trẻ nhỏ đã không biết đến sự kiện vĩ đại”.

Sự kiện này đã diễn ra hai mươi mốt triệu năm trước đây. Các chu kỳ đã trôi qua và khi ở một niên đại muộn hơn, mặt trời đã ở cung Hải Sư (khoảng mười tám triệu năm trước đây), các trường hợp đầu tiên của sự phối hợp giữa bộ não và thể trí đã diễn ra, và con người chắc chắn là có ngã thức. Y ghi nhận sự tồn tại riêng của mình. Các con số về niên đại đầu tiên (mặc dù tính chính xác là không thể có được trong một hệ thống biến đổi như là hệ thống chúng ta) là 21.688.345 năm trước đây. Những con số này thật là vô ích vào lúc này, vì chúng không thể được chứng minh là đúng hay sai. Sự nghiên cứu sau này sẽ chứng minh tính hữu dụng của chúng, khi bản chất của thời gian được hiểu rõ hơn. Nhân chi phối sự tiến hóa của con người, vì nó tượng trưng cho sự tiến bộ hướng tới một mục tiêu hữu thức. Hải Sư chi phối ý thức con người trong giới nhân loại, vì năng lượng đang tuôn đổ qua nó giúp cho con người nói “Tôi hiện hữu” (“I am”).

thể là đáng công nếu Tôi cố gắng diễn dịch, tất nhiên là không đầy đủ, từ khóa (key word) của mỗi cung hoàng đạo. Các từ này chia thành hai loại, trong phạm vi liên quan tới con người. từ khóa cho khía cạnh hình tướng, và từ khóa cho khía cạnh linh hồn. Trong trường hợp thứ nhất, từ này được biểu lộ; trong trường hợp thứ hai, nó được nói lên một cách hữu thức bởi linh hồn. Khi được diễn dịch thành các thuật ngữ hiện đại, thì nhiều điều bị mất đi, nhưng tư tưởng cơ bản đang chỉ đạo công việc của các năng lượng phát ra vẫn có giá trị. Đối với chu kỳ thế giới của chúng ta, chúng là như sau:

Đối với người tìm đạo tiến bộ từ Bạch Dương (Aries) đến Song Ngư (Piscess) và do đó đã tự tái định hướng chính mình, chúng ta có : (Số thứ tự Nghịch chiều tiến hóa vật chấtNhân trắc học ghi chú)

1Aries

(Dương Cưu)

 Tôi tiến tới, và từ cõi trí tuệ, tôi chi phối (rule).
2Taurus

(Kim Ngưu)

 Tôi thấy, và khi mắt được mở ra, mọi vật trở nên sáng tỏ.
3Gemini

(Song Nam)

 Tôi nhận ra cái ngã khác của tôi và trong sự suy tàn của cái ngã đó, tôi phát triển và sáng chói.
4Cancer

(Bắc Giải)

 Tôi kiến tạo một ngôi nhà được thắp sáng và sống trong đó.
5Leo (Hải Sư) Tôi là Cái ĐóCái Đó là tôi.
6Virgo

(Xử Nữ)

 Tôi là Mẹ và Con, tôi là Thượng Đế, tôi là vật chất (I God, I matter am).
7Libra

(Thiên Xứng)

 Tôi chọn Con Đường đang dẫn đến giữa hai tuyến lực vĩ đại.
8Scorpio

(Hổ Cáp)

 Tôi là Chiến Sĩ, và từ cuộc chiến tôi vươn lên chiến thắng.
9Sagittarius

(Nhân)

 Tôi thấy mục tiêu. Tôi đạt được mục tiêu và thấy mục tiêu khác.
10Capricorn

(Ma Kết)

 Tôi bị lạc trong ánh sáng siêu nhiên và dựa lưng vào ánh sáng đó.
11Aquarius

(Bảo Bình)

 Tôi là Nước của sự sống, được tuôn đổ ra cho những người khát.
12Pisces

(Song Ngư)

 Tôi rời khỏi nhà của Từ Phụ và khi quay trở lại, tôi cứu giúp.

Theo quan điểm của sắc tướng thì sự sống tiến hành theo một hướng ngược lại, và hoạt động của thiên nhiên được nhìn thấy dựa vào những lời sau đây:

– Số thứ tự thuận chiều tiến hóa vật chất (Nhân trắc học ghi chú), nó đảo nghịch với chiều tiến hóa tâm linh (Bảng liền phía trên)                              

1Song NgưLinh Từ được phán: Hãy đi vào vật chất
2Bảo BìnhLinh Từ được phán: Hãy để cho ước muốn trong hình hài trở thành người chi phối.
3Nam Dương (Ma Kết)Linh Từ được phán: Hãy để cho tham vọng cai quản, và cánh cửa vẫn mở rộng.
4Nhân Và Linh Từ được phán: Hãy tìm kiếm thức ăn.
5Hổ Cáp

(Bọ Cạp)

 Và Linh Từ được phán: Hãy để cho Ảo Tưởng (Maya) phát triển và sự lừa dối ngự trị.
6Thiên Xứng Và Linh Từ được phán: Hãy thực hiện sự lựa chọn.
7Xử Nữ Và Linh Từ được phán: Hãy để cho vật chất ngự trị.
8Hải Sư Và Linh Từ được phán: Hãy để các hình hài khác tồn tại, tôi ra lệnh.
9Bắc Giải

(Cancer)

 Và Linh Từ được phán: Hãy để sự cô lập trở thành qui luật và tuy thế đám đông vẫn tồn tại.
10Song Nam Và Linh Từ được phán: Hãy để sự ổn định thực hiện công việc của nó.
11Kim Ngưu Và Linh Từ được phán: Hãy để cuộc đấu tranh không bị nao núng.
12Bạch Dương Và Linh Từ được phán: Hãy tìm kiếm hình tướng lần nữa.

Cần lưu ý rằng tất cả những ý tưởng này đều có liên quan đến hoạt động của năng lượng theo một hình thức này hoặc hình thức khác nào đó, và trong nhóm cuối cùng có hoạt động của cái gọi là cá nhân ích kỷ không sám hối, đầy sự đòi hỏi để thỏa mãn. Nhóm các thần chú được người tìm đạo dùng bằng sức mạnh của linh hồn mình, thì có tính tích cực.

QUI LUẬT XI

Ba điều mà người phụng-sự theo thiên-luật hiện nay phải hoàn tất.

– Thứ nhất, xác định công thức vốn sẽ giới hạn các sự sống bên trong bức tường bao quanh hình cầu;
– kế tiếp, phát ra các linh từ vốn sẽ bảo cho chúng biết những gì phải làm và mang những gì đã làm được đi đâu;
– và cuối cùng, phát ra tập ngữ thần bí vốn sẽ cứu y khỏi hoạt động của chúng.

             Phân Tích Ba Câu.
Việc Giải Cứu khỏi các Hình-Tư Tưởng của chúng ta.
Việc Giải Cứu khỏi Sự Tử Vong.

QUI LUẬT XI
PHÂN TÍCH BA CÂU

Như bạn biết, qui luật này là qui luật cuối cùng trong số các qui luật cai quản hoạt động trên cõi cảm dục, và nhiệm vụ kỳ diệu để thúc đẩy các hình-tư-tưởng vốn sẽ là biểu lộ của một loại năng lượng nào đó. Chúng ta đã xem xét các năng lượng khác nhau mà con người hoạt động với chúng, và quyền năng mà một người có thể vận dụng qua việc tạo ra các hình-tư-tưởng. Chúng ta cũng đã thấy làm thế nào một người có thể vận dụng các cấp độ vật chất khác nhau cho đến khi ý tưởng đã được thể hiện đã tự khoác lấy chất trí (mental matter) và chất cảm dục. Do đó, nó là một thực thể có sức sống (vital entity) sắp sửa hiện thân trên cõi trần. Cần lưu ý là giờ đây không gì có thể ngăn chận sự xuất hiện của nó vào thế giới ngoại cảnh, ngoại trừ sự biểu lộ tác động ý chí của người tạo ra nó, vì hình hài, do được chủ thể tạo tác đó truyền sinh lực, nên luôn luôn lệ thuộc vào ý chí của y, cho đến khi y đã cắt đứt sự kết nối của y với nó bằng cách phát ra “tập ngữ thần bí”. Chúng ta sẽ thừa nhận rằng việc xuất hiện vào sự hiện tồn thực tế là sự quyết định, và công việc sáng tạo đó được xúc tiến.

Trong con người, nguyên khí sự sống này biểu lộ theo 3 cách:

1. Dưới hình thức ý chí, mục đích, động lực cơ bản có định hướng. Đây là năng lượng năng động vốn làm cho con người hoạt động, đưa con người vào sự sống, đặt kỳ hạn của sự sống con người, đưa con người vượt qua các năm, dài hay ngắn, và tự rút mình ra vào cuối chu kỳ sống của mình. Đây là tinh thần trong con người, biểu lộ dưới hình thức ý chí muốn sống, hiện hữu, hành động, theo đuổi, tiến hóa. Ở trạng thái thấp nhất của nó, tinh thần hoạt động thông qua thể trí (mental body) hay bản chất (nature) trí tuệ, và trong sự liên kết với nhục thân, nó tự làm cho nó được cảm nhận qua não bộ.

2. Dưới hình thức lực cố kết. Chính tính chất thiết yếu quan trọng đó làm cho mỗi người khác nhau, tạo ra sự biểu lộ phức tạp về các tâm trạng, các ham muốn, các đặc tính, các phức cảm, các ức chế, các cảm xúc và các đặc điểm vốn tạo ra tâm lý đặc biệt của một người. Đây kết quả của sự tương tác giữa tinh thần hay khía cạnh năng lượng, với vật chất hay bản chất xác thân. Đây là con người chủ quan đặc biệt, sắc thái của y, hay nốt (note) cá nhân; chính điều này thiết lập tốc độ của hoạt động rung động của thể y, tạo ra loại hình hài đặc biệt của y, chịu trách nhiệm về tình trạng và bản chất của các cơ quan của y, các tuyến của y, và trạng thái bên ngoài của y. Đây là linh hồn và – trong trạng thái thấp nhất của nó – nó hoạt động qua bản chất tình cảm hay cảm dục và liên quan với nhục thân, nó hoạt động qua quả tim.

3. Dưới hình thức hoạt động của các nguyên-tử và tế bào vốn tạo thành xác thân. Đó là toàn thể các sự sống bé nhỏ vốn tạo thành các cơ quan của con người, bao gồm toàn bộ con người. Các sự sống này có sự sống riêng của chúng và có một ý thức vốn hoàn toàn có tính cá nhân và được nhận biết.

Trạng thái này của nguyên khí sự sống hoạt động qua thể dĩ thái hay thể sinh lực và liên quan với cơ cấu rắn đặc của hình hài hữu hình qua lá lách. (LVHLT, 452)

I- Xác định công thức sẽ giới hạn sự sống bên trong bức tường bao bọc hình cầu.

Như chúng ta đều biết rõ, mọi hình hài trong thiên nhiên đều được tạo thành từ vô số sự sống nhỏ bé, các sự sống này có một mức độ ý thức, sự nhịp nhàng, và sự cố kết nào đó tùy theo mãnh lực của Định Luật Thu Hút, được vị kiến tạo ra hình hài sử dụng. Điều này đúng cho cả Đại Thiên Địa và thế giới vô tận của các sự sống tiểu thiên địa, vốn được chứa trong tổng thể lớn hơn. Các thái-dương-hệ phôi thai, ra đời dưới sự thúc đẩy của tư tưởng thiêng liêng, …. Cuối cùng chúng ta có được một thái dương-hệ là thái-dương-hệ của chúng ta và vô số các thái dương-hệ khác – một thái-dương-hệ hoạt động dưới hình thức một mặt trời với các hành tinh xoay tròn đang quay quanh nó; duy trì các quỹ đạo khác nhau của chúng, giữ các vị trí đã định và tương đối của chúng, hoạt động như các sinh vật độc lập và phụ thuộc lẫn nhau

+ Thật là chính đáng khi nhớ rằng các yếu tố sau đây chi phối sự xuất hiện của ý tưởng từ Thiên Trí (Universal Mind) vào thế giới của các hình tướng hữu hình. Đó là:

1. Các năng lượng phát ra từ cõi nguyên hình (archetypal plane). Cõi này là tiêu điểm (focus) của sự chú ý của nhóm Các Đấng Thông Tuệ cao nhất trên hành tinh của chúng ta.

2. Trạng thái nhận thức bằng trực giác. Chúng ta nhận thấy các Chân Sư Minh-Triết (Masters of Wisdom) tiến hành công việc của các Ngài ở trình độ tâm thức này, và chính trong phạm vi ảnh hưởng này mà các Ngài hoạt động một cách thoải mái và dễ dàng nhất, cũng như người thông minh bình thường hoạt động trên cõi trần. Thể trí của các Ngài luôn luôn giao tiếp với các thể trí ở cõi nguyên-hình (archetypal minds), vốn là những vị bảo quản những công thức

3. Hoạt động của trạng thái tâm thức mang tính trí tuệ.

…. Trong các từ ngữ “ánh sáng của trực giác, chúng ta đã truyền đạt cho thể trí của chúng ta loại năng lượng vốn tiêu biểu cho mục tiêu, ý chí của Thượng Đế, tức Thiên Cơ, khi chúng ta xem xét nó. Trong các từ “ánh sáng của linh hồn chúng ta có một diễn đạt tóm tắt mục đích, kế hoạch, ý chí của các thực thể đó, các ngài nhập thể trong hình dạng con người, và đôi khi hoạt động bên ngoài xác thân, có trách nhiệm hiện thực hóa các ý niệm thiêng liêng trong bốn giới trong thiên nhiên. Giới nhân loại, vượt trội nhất, là phương tiện biểu lộ cho Thiên Trí, và khi các con của Thượng Đế, trong hình hài con người được hoàn thiện, các vấn đề của thế giới thiên nhiên sẽ được giải quyết ở một mức độ rộng lớn. Các con của Thượng Đếý thức đầy đủ, biết về chính mình khi ở trong hình dạng con người (và cho đến nay họ còn ít ỏi), quả thật là đang kiến tạo bộ óc của sự sống hành tinh.

– Điểm mà Tôi muốn lưu ý, đó là độc giả bậc trung của các Giáo Huấn này không có liên quan gì với các công thức (Sáng tạo vật chất qua hình tư tưởngNhân Trắc học ghi chú). (LVHLT, 459)

II- Việc phát ra các linh từ chính là bảo cho chúng những gì phải làm và mang những gì đã được thực hiện đi đâu.

Chúng ta hãy nhớ trong sự liên quan đến Qui Luật này, đó là nó chỉ có uy lực chừng nào mà “người phụng sự theo Thiên Luật” hòa hợp với nội-thực-tại (inner reality) trong chính y, tức là với linh hồn. Căn bản là thông qua y, linh hồn phải hoạt động trong ý thức hoàn toàn tỉnh táo. Chính linh hồn phát ra các linh từ. Chính linh hồn thốt ra cụm từ thần bí (mystic phrase), nhưng chính linh hồn là chủ thể kiểm soát hoặc chủ thể cai quản cơ cấu, tức bộ máy xác thân. Sự kiểm soát này chỉ có thể xảy ra khi nào có sự chỉnh hợp của bộ não với thể trílinh hồn. Hơn nữa, nên nhớ rằng Qui Luật này, là sự biểu lộ của hoạt động sáng tạo, áp dụng cho mọi tiến trình sáng tạo, dù thuộc đại thiên địa hay tiểu thiên địa, dù chúng ta đang đề cập đến Thượng Đế trong cương vị là Đấng Sáng Tạo của thái-dương-hệ, đến linh hồn với cương vị chủ thể sáng tạo bộ máy của con người, hoặc đến con người khi y cố gắng để chế ngự kỹ thuật của công tác huyền thuật, và như thế trở thành một người sáng tạo các hình hài trong lĩnh vực nhỏ của riêng y. Tất cả đều phải thể hiện ý nghĩa thực sự của Qui Luật, vì Thượng Đế hoạt động theo định luật của Bản Thể (Being) của Ngài, và Luật này biểu hiện ra cho chúng ta dưới hình thức các định luật của thiên nhiên.(LVHLT, 463)

+ Bạn có thể đặt câu hỏi thích hợp: Có phải có một số qui luật đơn giản mà kẻ sơ cơ nhiệt tình và chân thành có thể áp dụng cho khoa học về kiến tạo này, và chúng rất rõ ràng và súc tích đến nỗi chúng sẽ tạo ra hiệu quả cần thiết chăng? Có đấy, và Tôi sẽ diễn đạt chúng một cách đơn giản để cho người sơ cơ, nếu y noi theo chúng, sẽ thoát khỏi những nguy hiểm của ma thuật, và học cách kiến tạo phù hợp với thiên cơ. Nếu y noi theo các qui luật mà Tôi đưa ra, y sẽ tránh được vấn đề phức tạp mà chính y đã tạo ra một cách mù quáng, và vấn đề này thực ra sẽ che mất ánh sáng ban ngày, làm đen tối thế giới của y, và giam y trong một bức tường của các hình tư tưởng mà đối với y, nó sẽ thể hiện cái ảo tưởng vĩ đại đặc thù của chính y.

Những qui luật này có thể nghe quá đơn giản cho người tìm đạo thông thái, còn đối với những người sẵn lòng để trở thành như những đứa trẻ nhỏ, họ sẽ nhận thấy chúng là một thông tin hướng dẫn vào chân lý một cách an toàn, và cuối cùng sẽ giúp cho họ có thể vượt qua các bài trắc nghiệm dành cho quả vị cao đồ (adeptship). Một số được diễn đạt bằng các thuật ngữ mang tính biểu tượng, còn một số khác tất nhiên là những bức màn che, số khác nữa diễn tả chân lý theo đúng thực tướng của nó.

1. Hãy xem xét thế giới của tư tưởng, và tách cái giả ra khỏi cái chân.

2. Hãy tìm hiểu ý nghĩa của ảo tưởng, và ở giữa của nó có sợi chỉ vàng của chân lý.

3. Hãy kiểm soát thể tình cảm, vì những con sóng nổi lên trên các vùng biển bão tố của cuộc sống sẽ nhấn chìm người đang bơi, che giấu mặt trời, và làm cho mọi kế hoạch thành vô hiệu.

4. Hãy phát hiện rằng bạn có một thể trí và học sử dụng nó theo hai cách.

5. Hãy tập trung nguyên khí suy tư lại, và hãy làm chủ thế giới trí tuệ của bạn.

6. Hãy biết rằng chủ-thể tư tưởngtư tưởng của y, và những gì vốn là phương tiện của tư tưởng có bản chất đa dạng, nhưng lại là duy nhất trong thực tại tối thượng.

7. Hãy hành động như chủ-thể tư-tưởng, và hãy biết rằng thật là không thích đáng để bán rẻ tư tưởng của bạn cho việc sử dụng thấp kém của ý muốn chia rẽ.

8. Năng lượng của tư tưởng vốn dành cho việc lợi ích của mọi người và cho việc xúc tiến Thiên Cơ của Thượng Đế. Do đó đừng dùng nó cho các mục đích ích kỷ của bạn.

9. Trước một hình-tư-tưởng do bạn tạo ra, hãy hình dung chủ đích của nó, xác định mục tiêu của nó, và kiểm tra động cơ thúc đẩy.

10. Đối với bạn, là người tìm đạo trên con đường của sự sống, con đường của sự kiến tạo hữu thức chưa phải là mục tiêu. Công việc tẩy sạch bầu không khí của tư tưởng, ngăn chận nhanh chóng các cánh cửa của tư tưởng dẫn tới sự thù ghét và sự đau khổ, tới sự sợ hãi, sự ghen tỵ và dục vọng thấp kém, cơ bản phải đi trước các công việc kiến tạo hữu thức. Hãy xem xét hào quang của ngươi, hỡi người du khách trên đường.

11. Hãy giám sát kỹ lưỡng các cánh cổng của tư tưởng. Hãy canh chừng (sentinel) dục vọng. Hãy xua đuổi mọi sự sợ hãi, mọi sự thù ghét, mọi sự tham lam. Hãy đề phòng và tìm kiếm.

12. Vì sự sống hầu hết được tập trung trên cõi của sự sống cụ thể, nên những từ ngữ và lời nói của bạn sẽ cho thấy tư tưởng của bạn. Hãy chú ý kỹ các điều này.

13. Lời nói có ba loại:

− Những lời tầm phào (idle words) sẽ tạo ra hậu quả cho từng lời. Nếu lời lẽ tốt và nhân từ, không có gì cần được thực hiện. Nếu ngược lại, việc trả giá không thể bị trì hoãn lâu.
− Những lời ích kỷ (selfish words), được đưa ra với ý định mạnh mẽ, sẽ dựng nên một bức tường chia rẽ. Cần thời gian dài mới phá vỡ bức tường đó, và do đó mới phóng thích cái ý định ích kỷ được tích chứa. Hãy xem xét động lực của bạn, và tìm cách dùng các lời lẽ nào để hòa trộn sự sống nhỏ bé với mục đích rộng lớn của ý chí Thượng Đế.
− Lời thù ghét (word of hate), lời nói độc ác, vốn hủy hoại những người cảm nhận ảnh hưởng mạnh của nó, là câu chuyện phiếm độc hại, được truyền đi vì nó gây ra một sự chấn động – những lời này giết chết những sự thôi thúc mong manh của linh hồn, cắt tận gốc rễ của sự sống, và vì thế đưa đến cái chết.
Nếu được nói dưới ánh sáng ban ngày, chúng sẽ mang lại sự trừng phạt xứng đáng; khi được thốt ra và được ghi nhận là những lời dối trá, chúng củng cố cho thế giới ảo tưởng mà người nói đang sống trong đó, và ngăn giữ y thoát ra.
Nếu được thốt ra với ý định gây thương tổn, gây sứt mẻ và gây chết chóc, chúng đi quanh co trở lại người đã phát chúng ra, và chúng sẽ gây tổn thương và giết kẻ đó.

14. Tư tưởng vô bổ, tư tưởng ích kỷ, ý nghĩ thù ghét độc ác nếu được chuyển thành lời nói, sẽ tạo ra một nhà tù, đầu độc mọi dòng suối của sự sống, dẫn đến bệnh tật, gây ra thảm họa và sự chậm trễ. Vì vậy, hãy dịu dàng, tử tế và tốt lành trong chừng mực mà bạn có thể. Hãy giữ sự tĩnh lặng, rồi ánh sáng sẽ đi vào.

15. Đừng nói về “cái ta”. Đừng thương cảm cho số phận của mình. Các ý tưởng về bản ngã và về thân phận thấp kém của bạn sẽ ngăn không cho tiếng nói nội tâm của chính linh hồn bạn vang đến tai bạn. Hãy nói về linh hồn; hãy bàn luận sâu về thiên cơ; hãy quên mình đi trong việc kiến tạo cho thế giới. Như thế định luật về hình hài được bù đắp. Như thế qui luật bác ái mới có thể bắt đầu thế giới đó.

Những qui luật đơn giản này sẽ đặt nền móng hợp lý cho việc tiến tới công tác huyền thuật, sẽ làm cho thể trí rõ ràng và mạnh mẽ, đến nỗi động cơ đúng đắn sẽ kiểm soát, và hoạt động thực sự trong việc xây dựng sẽ có thể thực hiện được.  (LVHLT, 473)

III. Cuối cùng, việc thốt ra cụm từ thần bí sẽ cứu y ra khỏi hoạt động của chúng. 

Do đó, có vẻ như là vào lúc kết thúc công việc sáng tạo về huyền thuật, một cụm từ phải được phát ra để thực hiện sự bảo vệ, và tạo ra một sự giải thoát gồm hai loại – một sự giải thoát cho tác nhân tạo tác (creating agent) ra khỏi hình tư tưởng mà y đã tạo ra, và sự giải phóng hình tư tưởng đó ra khỏi sự kiểm soát của kẻ đã tạo ra nó.

VIỆC GIẢI THOÁT KHỎI CÁC HÌNH TƯ TƯỞNG CỦA CHÚNG TA (LVHLT, 481)

Bây giờ Tôi nhân danh những người tìm đạo, mà, nhờ định trí và tham thiền, đang có được quyền năng trong tư tưởng. Tôi nhân danh các nhà tư tưởng của thế giới, mà, nhờ sự chuyên cần nhất tâm và lòng tận tụy với công việc, với khoa học, với tôn giáo hoặc với các phương cách hoạt động khác nhau của nhân loại, đã định hướng thể trí (không phải là các cảm xúc mà là trí năng) vào một đường lối hành động liên tục nào đó vốn tất nhiên là một phần của hoạt động thiêng liêng theo ý nghĩa rộng lớn.

Chính ở đây, trong việc sử dụng tư tưởng, mà người ta có thể thấy sự dị biệt giữa ma thuật và huyền-linh-thuật. Sự ich kỷ, sự nhẫn tâm, sự thù ghét, và sự độc ác đặc trưng cho người hoạt động trong chất trí, mà trong nhiều kiếp sống, các động cơ của y được tập trung chung quanh việc nâng cao chính mình, tập trung vào việc hoạch đắc các sở hữu cho cá nhân mình, và hoàn toàn hướng vào việc đạt được sự vui thích và thỏa mãn của riêng mình, không kể đến sự tổn thất gây ra cho người khác. Những người như thế may mắn là chỉ có ít thôi, nhưng cách đi đến một quan điểm như thế thì dễ đạt được, và nhiều người cần tự bảo vệ mình, vì sợ rằng họ bước đi không suy nghĩ trên con đường tiến tới tính duy vật (materiality).

thể nói rằng con người rơi vào ba nhóm chính:

1. Đại đa số, vốn là những người không tốt cũng không xấu, nhưng chỉ không suy nghĩ và hoàn toàn chìm đắm vào trong triều lưu tiến hóa và trong hoạt động phát triển một ngã thức thực sự, cùng với sự trang bị cần thiết.

2. Một số nhỏ, có số lượng rất nhỏ, vốn là những người hoạt động một cách rõ rệt và hữu thức ở khía cạnh vật chất − hoặc (nếu bạn thích diễn tả nó như thế) ở khía cạnh của lực. Họ có uy lực trên cõi trần, nhưng quyền năng của họ thì tạm thời chứ không vĩnh cửu. Định luật của vũ trụ, vốn là luật bác ái, không ngừng chống lại họ, và từ trong điều có vẻ như là ác, cái tốt sẽ xuất hiện.

3. Một số lớn vốn là những người tiên phong đi vào giới linh hồn, họ là người tiêu biểu cho các ý tưởng trong kỷ nguyên mới, và là người gìn giữ cái khía cạnh của Minh-Triết Muôn Thuở (Ageless Wisdom) vốn sắp được tiết lộ cho nhân loại. Nhóm này bao gồm những người nam lẫn nữ, vị tha và thông minh trong mỗi lĩnh vực của nỗ lực con người, của người tìm đạo và các đệ-tử, của các điểm đạo đồ, − họ xướng lên nốt (note) cho các nhóm và các kiểu người (types) khác nhau − và của chính Thánh Đoàn Huyền Linh (Occult Hierarchy). Ảnh hưởng của nhóm các huyền bí gia và các bậc thức giả này thì cực kỳ lớn lao, và cơ hội hoạt động hợp tác với nhóm đó vào lúc này thì dễ dàng đạt tới hơn vào bất cứ thời điểm nào khác trong lịch sử nhân loại.

Nhóm thứ nhất thì không suy nghĩ, hai nhóm kia đang bắt đầu suy tư và sử dụng các định luật của tư tưởng. Tôi muốn bàn đến việc sử dụng tư tưởng của người tìm đạo. (LVHLT, 482)

+ Người tìm đạo: Hãy nhớ rằng không một người tìm đạo nào, dù chân thành và tận tụy đến đâu, mà không có những lỗi lầm. Nếu y không còn lỗi lầm thì y sẽ là một Chân Sư (adept). Mọi người tìm đạo vẫn còn ích kỷ, vẫn còn dễ cáu giận và dễ bị kích thích, vẫn bị phiền muộn và thậm chí đôi khi hận thù. Thường thường sự nổi giận và sự thù hận đó có thể được gợi lên bởi những gì mà chúng ta gọi là những nguyên nhân chính đáng. Sự bất công về phía những người khác, sự độc ác đối với con người và thú vật, lòng hận thù và sự ác độc của những huynh hữu của họ nhất định là làm khơi dậy trong họ những phản ứng tương ứng, và gây cho họ nhiều đau khổ và sự chậm trễ. Có một điều phải luôn được ghi nhớ. Nếu một người tìm đạo gợi lên sự căm thù trong một người đồng bạn, nếu y khơi dậy nơi người bạn ấy sự nóng giận, và nếu y gặp phải sự không ưa thích và sự đối kháng, chính là vì bản thân y không phải là hoàn toàn vô tổn hại; vẫn còn trong y những hạt giống của phiền muộn, vì có một định luật trong thiên nhiên nói rằng chúng ta nhận lại (get) những gì chúng ta cho ra (give), và tạo ra những sự phản động phù hợp với sự hoạt động của chúng ta, dù là về thể chất, về tình cảm hoặc về trí tuệ.(LVHLT, 483)

Có ba bài học mà mỗi người tìm đạo cần phải học:

– Thứ nhất, đó là mỗi hình-tư-tưởng mà y tạo ra được xây dựng dưới sự thúc đẩy của một cảm xúc hoặc của một mong muốn nào đó; trong các trường hợp hiếm hơn thì nó có thể được tạo ra dưới ánh sáng của sự giác ngộ và do đó hiện thân cho một trực giác nào đó. Nhưng với đa số, xung lực thúc đẩy đang cuốn chất trí (mind stuff) vào hoạt động là một xung lực thuộc cảm xúc, hoặc một dục vọng mạnh mẽ, hoặc tốt hoặc xấu, hoặc ích kỷ hoặc vị tha.

– Thứ hai, cần nên nhớ rằng hình-tư-tưởng được cấu tạo như thế sẽ hoặc là ở lại trong hào quang của chính người tạo ra, hoặc sẽ tìm đường đến một đối tượng được cảm nhận. Trong trường hợp thứ nhất, nó sẽ tạo thành một phần của một bức tường dày đặc bằng các hình-tư-tưởng như thế, vốn hoàn toàn bao quanh người đó, hoặc tạo thành hào quang trí tuệ của y, và nó sẽ tăng thêm sức mạnh khi y chú ý đến nó cho đến khi nó quá lớn đến nỗi nó sẽ ngăn chận y với thực tại, hoặc là nó sẽ quá năng động và mạnh mẽ đến nỗi y sẽ trở thành nạn nhân của những gì mà y đã tạo ra. Hình-tư-tưởng sẽ trở nên mạnh mẽ hơn là kẻ tạo ra nó, đến nỗi y trở nên bị ám ảnh bởi các ý tưởng của chính mình, và bị lèo lái bởi chính sự sáng tạo của mình. Trong trường hợp thứ hai, hình tư-tưởng của y sẽ tìm đường nhập vào hào quang thể trí của một người khác, hoặc vào một nhóm nào đó. Ở đây, bạn có các mầm mống của công tác huyền thuật xấu xa, và việc áp đặt của một thể trí mạnh mẽ lên một thể trí yếu đuối. Nếu nó tìm cách vào một nhóm nào đó, các hình-tư-tưởng có xung lực tương tự (có trong hào quang của nhóm) sẽ kết hợp lại với nó, có tốc độ hoặc mức độ rung động tương tự. Rồi thì điều tương tự sẽ diễn ra trong hào quang nhóm, như đã diễn ra trong vòng giới hạnnhân – nhóm sẽ có quanh nó một bức tường ngăn chận bằng các hình-tư-tưởng, hoặc nó sẽ bị ám ảnh bởi một ý tưởng nào đó. Ở đây chúng ta có manh mối cho mọi chủ nghĩa bè phái, cho mọi sự cuồng tín, và cho một số hình-tư-tưởng của sự điên rồ, cả nhóm lẫn cá nhân.

– Thứ ba, kẻ sáng tạo ra hình-tư-tưởng (trong trường hợp này là một người tìm đạo) vẫn chịu trách nhiệm. Hình-tư tưởng này vẫn được liên kết với y bởi mục đích sinh động của y, và do đó nghiệp quả (karma) của các kết quả, và công tác hủy diệt cuối cùng những gì mà y đã tạo ra phải là của y. Điều này đúng đối với mọi ý tưởng được thể hiện, tốt cũng như xấu. Kẻ sáng tạo ra tất cả các điều đó chịu trách nhiệm đối với công việc sáng tạo của mình. Chân Sư Jesus, chẳng hạn, vẫn còn phải đối phó với những hình-tư-tưởng mà chúng ta gọi là Giáo Hội Cơ Đốc, và có nhiều việc phải làm. Đức Christ và Đức Phật vẫn còn một số công tác hoàn bị nào đó cần làm cho xong, mặc dù không nhiều, với các hình tư tưởng vốn hiện thân cho các nguyên tắc được đề ra của các Ngài, như với các linh hồn đã tiến hóa nhờ việc áp dụng những nguyên tắc này (LVHLT, 485)

Sử lý hình tư tưởng không tốt đến với mình – Người tìm đạo:

Với sự kiện ở cõi trần thì không như thế (Hình tư tưởng không tốt). Đó là một thực thể sống động, được khoác vào bằng vật chất của cõi cảm dụccõi trí, khi lần đầu tiên bạn gặp và tiếp xúc với nó. Bạn sẽ truyền sức sống (vitalise) cho nó, hoặc bạn sẽ ngăn chận nó? Hãy ngăn chận nó bằng một luồng sóng bác ái dành cho nó, luồng sóng này bọc lấy hình-tư-tưởng và gửi nó trở lại cho kẻ phát khởi, được mang trên đôi cánh của một cơn sóng vật chất cõi cảm dục, đủ mạnh để quét qua và xung quanh, có thể làm tan rã, nhưng chắc chắn nhất là gửi trả nó lại một cách vô hại cho người gửi.

Bạn hấp thu hình-tư-tưởng mà bạn gặp vào tim bạn, và nơi đó bạn chuyển hóa bằng thuật luyện kim của tình thương. Hãy để Tôi thực hành và minh họa, vì vấn đề này là rất quan trọng,…..(cụ thể, cách sử lý thông tuệ các hình tư tưởng sấu, xem LVHLT, 488)

VIỆC GIẢI CỨU KHỎI SỰ TỬ VONG

Giờ đây, chủ đề của chúng ta là việc giải cứu khỏi phàm-ngã (body nature) qua diễn trình của sự chết.

Có hai điều cần ghi nhớ khi chúng ta muốn nghiên cứu các phương tiện giải cứu này:

Thứ nhất,….. Người bình thường (average man) làm việc một cách thuận lợi và có ngã thức trong thể xácthể cảm dục.

Thứ hai, sự giải cứu này được mang lại nhờ một sự hiểu biết đúng đắn về kinh nghiệm thần bí mà chúng ta gọi cái chết (death). Đây sẽ là chủ đề của chúng ta ….Chúng ta cũng sẽ tự hạn chế chủ yếu là vào cái chết của thể xác.

Trước hết, chúng ta hãy định nghĩa tiến trình bí ẩn này mà mọi hình hài đều lệ thuộc vào, và đó thường chỉ là sự kết thúc đáng sợ − đáng sợ là vì người ta không hiểu nó. Thể trí của con người kém phát triển đến nỗi sợ hãi cái không biết, kinh khiếp trước cái xa lạ, và sự gắn bó với hình hài đã mang lại một tình trạng mà một trong những sự kiện lợi ích nhất trong chu kỳ sống của một Đứa Con Thượng Đế đang lâm phàm, lại bị coi như là một cái gì đó cần được tránh và được trì hoãn một thời gian càng lâu càng tốt.

Nếu chúng ta có thể hiểu rõ nó, thì cái chết là một trong những hoạt động được kinh nghiệm nhiều nhất của chúng ta. Chúng ta đã chết nhiều lần và sẽ lại chết nhiều lần nữa. Sự chết về cơ bản là một vấn đề về tâm thức….. Chỉ chừng nào mà ý thức của chúng ta còn bị đồng nhất hóa với khía cạnh hình hài, thì cái chết sẽ vẫn còn duy trì sự kinh hoàng xưa cũcủa nó đối với chúng ta.

Nhưng người ta thường quên rằng mỗi đêm, trong những giờ ngủ, thì chúng ta chết đối với cõi trần, và còn sống và hoạt động ở nơi khác. Họ quên rằng họ đã thực hiện dễ dàng việc rời khỏi thể xác; …….Nhưng diễn trình của giấc ngủ hằng ngày và diễn trình của việc thỉnh thoảng chết thì giống hệt nhau…Trong cái chết, sinh mệnh tuyến (life thread) này bị đứt hoặc bị gãy. Khi điều này đã xảy ra thì thực thể hữu thức không thể quay trở lại thể xác trọng trược, và thể xác đó do thiếu nguyên khí cố kết (principle of coherence), sau đó tan rã (LVHLT, 495)

Linh hồn, được trụ ở tim (seated in the heart), là nguyên khí sự sống (life principle), nguyên khí tự quyết (principle of self-determination), hạt nhân trung tâm mang năng lượng dương (positive), nhờ đó mọi nguyên-tử của thể được giữ đúng chỗ của chúng, và phụ thuộc vào “ý-muốn-tồn-tại” (“will-to-be”) của linh hồn…..Nguyên khí sự sống này sử dụng dòng máu như là phương cách biểu lộ của nó, và như là tác nhân kiểm soát của nó, và thông qua mối quan hệ mật thiết của hệ thống tuyến nội tiết đối với dòng máu, chúng ta có hai trạng thái hoạt động của linh hồn được hợp lại để làm cho con người thành một thực thể sống, có ý thức, hoạt động, được chi phối bởi linh hồn

Do đó, cái chết thật ra là sự triệt thoái ra khỏi trái tim và ra khỏi đầu của hai dòng năng lượng này (cả hai tuyếntuyến sự sống và tuyến năng lực lý trí), vì vậy tạo ra sự mất hoàn toàn ý thức và sự tan rã của thể xác. Cái chết khác với giấc ngủ ở chỗ cả hai dòng năng lượng bị triệt thoái. …. Với điều này, chúng tôi muốn nói rằng (Khi đã chết) ý thức con người hay giác quan nhận thức của y được tập trung ở nơi khác. Sự chú ý của y không còn hướng về những sự vật hữu hình và vật chất nữa, mà được chuyển sang một thế giới hiện tồn khác, và trở nên được tập trung trong một bộ máy hoặc cơ cấu khác. Trong cái chết, cả hai tuyến được triệt thoái hoặc được hợp nhất (unified) trong tính mệnh tuyến (life thread). Sinh khí không còn thấm qua dòng máu và trái tim không còn hoạt động, cũng như não không còn ghi nhận, và thế là sự im lặng phủ xuống.(LVHLT, 498)

+ Trong tiến trình từ trần (Linh hồn thoát xác), áp lực của sinh năng đập vào mạng lưới, cuối cùng tạo ra một lỗ thủng hoặc chỗ mở. Sinh lực tuôn đổ ra khỏi lỗ này khi sức mạnh của ảnh hưởng đang rút ra của linh hồn tăng lên. Trong trường hợp của loài vật, trẻ con và những người nam lẫn nữ còn an trụ hoàn toàn vào thể xácthể cảm dục, thì cửa thoát ra là huyệt đan điền và chính mạng lưới đó bị đánh thủng, do đó cho phép việc đi ra. Trong trường hợp của các loại người thuộc trí tuệ, của các đơn vị nhân loại tiến hóa cao, thì chính mạng lưới ở đỉnh đầu trong khu vực của thóp (fontanelle) bị vỡ, do đó lại cho phép sự thoát ra của người suy tư thuần lý.

Nơi những người tâm thông (psychics), và trong trường hợp của các đồng tử và những người tiên tri bậc thấp (những người có nhãn thôngnhĩ thông), mạng lưới ở bí huyệt đan điền luôn luôn đứt vỡ sớm trong kiếp sống, do đó họ dễ dàng chuyển vào hoặc ra khỏi thể xác, đi vào trạng thái xuất thần, như người ta thường gọi, và hoạt động trên cõi cảm dục. Nhưng đối với các loại người này, không có sự liên tục của ý thức, và có vẻ như không có sự liên quan nào giữa cuộc sống ở cõi trần của họ với những diễn biến mà họ kể lại trong trạng thái xuất thần (trance), và họ vẫn thường hoàn toàn không biết về chúng trong tâm thức tỉnh thức. Toàn bộ hoạt động đều ở dưới cơ hoành và có liên quan chủ yếu với sự sống cảm thức của con vật. Trong trường hợp trạng thái nhãn thông hữu thức và trong hoạt động của các nhà tâm thông và nhà thấu thị (seers) bậc cao thì không hề có sự xuất thần, sự ám nhập (obsession) hoặc trạng thái đồng cốt (mediumship). Chính mạng lưới trong bộ não bị thủng, và chỗ hở trong vùng đó cho phép việc tuôn vào của ánh sáng, thông tin và cảm hứng; nó cũng mang lại quyền năng để chuyển vào trạng thái Đại Định (Samadhi), vốn là sự tương ứng về tâm linh với trạng thái xuất thần của bản chất con vật.

=> Do đó, trong diễn trình sự chết, đây là hai lối thoát chính: huyệt đan điền đối với người an trụthể cảm dục, thiên về vật chất, và do đó thuộc đại đa số người, và bí huyệt đầu đối với người an trụthể trí và có định hướng tâm linh.

– Còn người bậc trung thì ra sao? Một lối thoát thứ ba đang được dùng tạm thời; ngay dưới đỉnh nhọn của trái tim, người ta thấy một lưới dĩ thái khác bao gồm một lỗ thoát ra. Do đó chúng ta có tình trạng sau đây:

1. Lối thoát ở đầu, được sử dụng bởi loại ngườitrí tuệ, bởi các đệ-tử và các điểm đạo đồ trên thế giới.
2. Lối thoát ở tim, được sử dụng bởi những người nam, hoặc nữ nhân hậu, có thiện ý, vốn là một công dân tốt, người bạn thông minh và người phụng sự vị tha.
3. Lối thoát trong vùng đan điền, được sử dụng bởi người thiên về tình cảm, kém thông minh, thiếu suy nghĩ, và bởi những người có thú tính còn mạnh. (LVHLT, 501)

Do đó, Tôi sẽ cung cấp cho bạn bốn quy tắc đơn giản vốn liên kết với nhiều điều mà tất cả đạo sinh đang làm:
1. Học cách giữ tập trung trong đầu qua việc hình dungthiền định, và qua việc thực hành đều đặn sự định trí; phát triển năng lực sống ngày càng tăng như ông vua ngự trên ngai vàng giữa hai chân mày. Đây là một quy tắc có thể được áp dụng cho các công việc mỗi ngày của cuộc sống.
2. Học cách phụng sự nhiệt tình chứ không phải một sự khăng khăng có tính cách tình cảm vào hoạt động hướng tới việc giải quyết các công việc của những người khác. Trước mọi hoạt động như thế, điều này có liên quan đến việc trả lời hai câu hỏi: − Có phải tôi đang thực hiện việc phụng sự này cho một cá nhân với tư cách một cá nhân, hay là tôi làm việc đó với tư cách là một thành viên của một nhóm cho một nhóm? Động lực của tôi có phải là một xung lực của chân ngã, hay tôi bị thúc đẩy bởi cảm xúc, tham vọng để tỏa sáng và tình yêu để được yêu thương hay được ngưỡng mộ? Hai hoạt động này sẽ dẫn đến việc tập trung các năng lượng sự sống trên cơ hoành và do đó phủ nhận sức mạnh thu hút của huyệt đan điền. Nhờ vậy, bí huyệt đó sẽ ngày càng trở nên bất động, và sẽ không có quá nhiều nguy cơ của việc làm thủng mạng lưới ở địa điểm đó.
3. Khi bạn đi ngủ, hãy học cách rút ý thức vào đầu. Điều này nên được thực hành như là một sự luyện tập xác định khi người ta rơi vào giấc ngủ. Người ta không nên tự cho phép mình buông trôi vào giấc ngủ, mà nên cố gắng duy trì ý thức còn nguyên vẹn cho đến khi có một sự chuyển ra có ý thức lên cõi cảm dục. Người tìm đạo nên cố gắng thư giãn, chú ý chặt chẽ, và rút từ từ lên đến bí huyệt trong đầu, cho đến khi y đã học cách bình tĩnh nhận thức tất cả các diễn tiến khi đi ngủ, và duy trì đồng thời sự tích cực của mình, có sự nguy hiểm trong công việc này. Các bước đầu phải được thực hiện một cách sáng suốt và được theo dõi trong nhiều năm cho đến khi công việc trừu xuất được thực hiện dễ dàng.
4. Hãy ghi nhận và xem xét mọi hiện tượng liên quan đến tiến trình triệt thoái, dù được noi theo trong lúc thiền định hay đi ngủ. Thí dụ người ta sẽ thấy rằng nhiều người thức tỉnh với một sự giật nảy gần như đau đớn ngay khi họ đã thiếp ngủ. Đây là do việc tâm thức trượt ra ngoài qua một mạng lưới vốn không đủ thông thoáng và qua một cái lỗ bị đóng một phần. Những người khác có thể nghe thấy một tiếng tách (snap) rất lớn ở vùng đầu. Điều này được gây ra bởi các luồng sinh khí (vital airs) trong đầu mà chúng ta thường không nhận thức được, và được tạo ra bởi sự nhạy cảm của tai trong, nó gây ra sự nhận thức về những âm thanh luôn luôn hiện diện nhưng thường không được ghi nhận. Những người khác sẽ nhìn thấy ánh sáng khi họ thiếp ngủ, hoặc những đám mây có màu, hoặc các băng rôn (banner) và các băng giấy màu tím, tất cả những cái này đều là các hiện tượng dĩ thái. Những hiện tượng này không có tầm quan trọng thực sự nào, tất cả đều liên quan đến thể sinh lực, đến các phóng phát sinh khí (pranic emanations) và đến lưới ánh sáng (web of light).

Việc tiến hành sự luyện tập này và việc tuân theo bốn quy tắc này trong một thời gian nhiều năm sẽ làm được nhiều điều để tạo thuận lợi cho kỹ thuật lúc lâm chung, vì người nào đã học được cách điều khiển thể của mình khi y đi ngủ sẽ có lợi thế hơn người không bao giờ để ý chút nào đến tiến trình này.
Liên quan đến kỹ thuật từ trần, vào lúc này, Tôi chỉ có thể đưa ra một hoặc hai gợi ý. Ở đây, Tôi không bàn đến thái độ của những người thức canh có mặt ở đó, Tôi chỉ bàn đến những điểm nào vốn sẽ làm cho việc qua đời dễ dàng hơn của linh hồn tạm trú.

Trước tiên, hãy giữ sự im lặng trong phòng. Tất nhiên đây là trường hợp thường thấy. Cần phải nhớ rằng người sắp chết thường có thể bất tỉnh. Sự bất tỉnh này là vẻ ngoài chứ không phải thật. Hết chín trăm trường hợp trong số một ngàn, vẫn có ý thức não bộ, với một sự ý thức đầy đủ về các diễn biến, nhưng có một sự tê liệt ý chí hoàn toàn để biểu lộ, và hoàn toàn không có khả năng tạo ra năng lượng vốn sẽ biểu thị sự sinh động. Khi sự im lặng và sự hiểu biết chi phối phòng bệnh, linh hồn sắp ra đi có thể sở hữu công cụ của nó một cách rõ rệt cho đến phút cuối cùng, và có thể thực hiện sự chuẩn bị thích hợp.

Sau đó, khi màu sắc có liên quan được biết nhiều hơn, thì chỉ những đèn màu cam (orange) sẽ được phép đặt trong phòng bệnh của một người sắp chết, và sẽ chỉ được lắp đặt ở đó theo đúng nghi lễ, khi chắc chắn là không có khả năng hồi phục. Màu cam giúp cho việc tập trung trong đầu, giống như màu đỏ (red) kích thích huyệt đan điền, và màu xanh lá cây (green) có tác dụng rõ rệt trên tim và các dòng sinh lực (life streams).

Một số loại âm nhạc sẽ được sử dụng khi nhiều điều liên quan đến âm thanh được hiểu rõ, nhưng cho đến nay không có âm nhạc nào sẽ tạo thuận lợi cho công việc của linh hồn trong việc tự xuất ra khỏi thể xác, mặc dù người ta sẽ thấy một vài nốt (notes) trên đàn organ có hiệu quả. Vào đúng lúc lìa trần, nếu nốt riêng của một người được xướng lên, nó sẽ kết hợp hai dòng năng lượng và cuối cùng làm đứt sinh mệnh tuyến (life thread), nhưng kiến thức về việc này còn quá nguy hiểm nên không thể truyền đạt được, và chỉ có thể được đưa ra sau này. Tôi muốn chỉ ra tương lai và các đường lối mà theo đó việc nghiên cứu huyền linh học tương lai sẽ diễn ra.

Người ta cũng thấy là áp lực trên một số trung tâm thần kinh và trên một vài động mạch sẽ tạo thuận lợi cho công việc. (Khoa học về sự tử vong này được gìn giữ kỹ lưỡng ở Tây Tạng, như nhiều đạo sinh đã biết). Áp lực trên tĩnh mạch cổ và trên một số dây thần kinh lớn trong vùng đầu, và trên một vị trí đặc biệt ở hành tủy sẽ được nhận thấy là hữu ích và có hiệu quả. Một khoa học rõ ràng về cái chết chắc chắn sau này sẽ được soạn thảo tỉ mỉ, nhưng chỉ khi nào sự thật về linh hồn được công nhận và mối liên hệ của nó với thể xác đã được chứng minh một cách khoa học.

Cụm từ thần chú cũng sẽ được sử dụng và chắc chắn được đưa vào ý thức của người hấp hối bởi những người xung quanh y, hoặc vận dụng một cách có cân nhắc và bằng trí tuệ của chính y. Đấng Christ đã chứng tỏ việc sử dụng chúng khi Ngài kêu to: “Lạy Cha, con xin phó thác tinh thần con vào tay Ngài”. Và chúng ta có một ví dụ khác trong các lời này : “Lạy Chúa, xin Ngài hãy để cho tôi tớ của Ngài ra đi trong an bình”. Việc sử dụng đều đặn Thánh Ngữ được xướng lên nhỏ giọng, hoặc theo một giọng đặc biệt (mà người ta thấy người hấp hối có đáp ứng), sau đó có thể cũng tạo thành một phần của nghi lễ chuyển tiếp được kèm theo bằng việc xức dầu, như được duy trì trong Giáo Hội Thiên Chúa.

Việc xức dầu đỉnh đầu có một cơ sở khoa học và huyền nhiệm. Dưới hình thức tượng trưng, đỉnh đầu của người hấp hối cũng nên hướng về phía Đông, còn chân và tay nên được bắt chéo. Gỗ đàn hương (sandalwood) chỉ nên được đốt trong phòng và không có hương chất đốt của bất kỳ loại nào khác được phép sử dụng, vì gỗ đàn hương là hương của cung 1 hay cung hủy diệt, linh hồn đang trong tiến trình hủy diệt trú sở của nó.
Đây là tất cả những gì mà Tôi có thể truyền đạt vào lúc này về chủ đề cái chết cho công chúng xem xét. Nhưng Tôi khẩn thiết yêu cầu tất cả các bạn hãy thúc đẩy việc nghiên cứu về cái chết và kỹ thuật của nó trong phạm vi có thể, và hãy tiến hành việc nghiên cứu huyền bí về vấn đề này.(LVHLT, 506)

 

QUY LUẬT MƯỜI HAI

Mạng lưới rung động theo nhịp. Nó co lại và phồng ra. Nhà huyền thuật hãy nắm lấy điểm giữa và nhờ thế giải thoát “những tù nhân của hành tinh” nào mà nốt (note) của họ thích hợp và được điều hợp một cách chính xác với những gì phải được thực hiện.

Các Thời Kỳ Chuyển Tiếp (Interludes) và Các Chu Kỳ (Cycles).
Các Tù Nhân của Hành Tinh.

QUY LUẬT MƯỜI HAI
CÁC THỜI KỲ CHUYỂN TIẾP VÀ CÁC CHU KỲ

Bây giờ chúng ta đến với bốn quy luật có liên quan đến cõi trần. Về nhiều mặt thì sự hiểu biết về chúng khó hơn nhiều so với trường hợp của các quy luật khác, tương tự như việc áp dụng thực tế khó hơn nhiều so với việc tạo lập lý thuyết (theorising). Chúng ta thường có thể suy tư một cách rõ ràng và mong muốn một cách đúng đắn, nhưng việc thể hiện thành sự biểu lộ ở cõi trần của các ý tưởng chủ quan/bên trong, theo định luật và có tính cách xây dựng, không bao giờ là một điều dễ làm.

Trong Luận Về Lửa Càn Khôn người ta sẽ nhận thấy một số điểm lý thú để chúng ta xem xét, và Tôi muốn trích dẫn một vài lời từ trong đó:

Ở đây có thể là hữu ích khi nhớ rằng trong công việc sáng tạo, nhà huyền linh thuật tận dụng các ảnh hưởng của cung hiện hành. Khi cung 5, cung 3cung 7 đang nắm quyền, hoặc là đang nhập cuộc, ở đỉnh cao tuyệt đỉnh, hoặc đang chuyển ra, thì công việc dễ dàng hơn nhiều so với khi cung 2, cung 6 hoặc cung 4 chiếm ưu thế. Hiện nay, như chúng ta biết, cung 7 đang nhanh chóng thống lĩnh, và đó là một trong các lực dễ chịu nhấtcon người phải làm việc với chúng. Dưới ảnh hưởng của cung này, người ta có thể kiến tạo một cấu trúc mới cho nền văn minh đang suy tàn nhanh chóng, và có thể dựng lên thánh điện mới mơ ước cho lực thúc đẩy của tôn giáo. Dưới ảnh hưởng của cung này, công việc của đông đảo các nhà huyền thuật vô thức sẽ trở nên dễ hơn nhiều”. (Trang 1021-1022)

Một tương tự rất thú vị thể hiện ra khi chúng ta nghiên cứu các lời này: “Mạng lưới rung động theo nhịp. Nó co lại và phồng ra”. Tư tưởng chủ đạo là tư tưởng về nhịp đập, của tâm trương và tâm thu, của sự thăng trầm, của sự hoạt động theo chu kỳ, của ngày hoạt động và đêm bất động, của dòng lưu nhập và dòng lưu xuất, và của nhiều sự xuất hiện và sự biến mất, nó biểu thị cho chuyển động qua lại của mọi sự sống trong mọi giới và mọi bề đo. Chu kỳ ngày và đêm này chính là dấu hiệu chắc chắn của sự sống biểu lộ phải được công nhận. Một trong những điều mà mỗi đệ-tử phải học (trình bày chân lý theo những thuật ngữ đơn giản nhất) là thành tựu sự minh-triết vốn dựa trên một sự hiểu biết về việc khi nào thì hành động và khi nào thì kiềm chế để không hành động, và dựa trên một sự hiểu biết về các giai đoạn hoặc các thời kỳ quá độ vốn được đặc trưng bằng lời nói và bằng sự im lặng. Chính ở đây mà những sai lầm được tạo ra và chính ở đây mà nhiều người phụng sự không tiến bộ được.

Thượng Đế hô hấp, và sự sống đang đập nhịp của Ngài phát ra từ tâm thiêng liêng và biểu lộ dưới hình thức năng lượng sinh động của mọi hình hài. Nó tuôn chảy, dao động theo các chu kỳ của nó, khắp cả thiên nhiên. Điều này tạo thành sự hít vào thiêng liêng và thở ra thiêng liêng. Giữa kỳ thở rahít vào này là một giai đoạn im lặng và thời điểm cho công việc có hiệu quả. Nếu các đệ-tử có thể học cách sử dụng các thời kỳ quá độ này, khi đó họ có thể phóng thích “tù nhân của hành tinh”, vốn là mục tiêu của mọi công việc huyền thuật, được thực hiện trong giai đoạn thế giới này.(LVHLT, 512)

+ Vị đệ-tử đang tìm cách hợp tác với Thánh Đoàn các Chân Sư, và biểu lộ sự hợp tác này bằng sự tham gia tích cực vào hoạt động của các Ngài trên cõi trần, phải học cách làm việc không chỉ qua việc thực chứng đại định mà còn qua một sử dụng khoa học các thời kỳ chuyển tiếp, được phát triển trong việc thở, giữa lúc hít vàothở ra theo ý nghĩa hoàn toàn vật chất của thuật ngữ. Đây là khoa học đích thực và là mục tiêu của thuật điều khí (pranayama).

Các môn sinh huyền linh học, vốn đã thể hiện sự tận tâm của họ và sự quân bình trí tuệ của họ, và (để sử dụng công thức cổ xưa của các trường phái thiền) đã giữ năm huấn lệnh và năm quy tắc, và đã đạt được sự quân bình đúng mức, thể bắt đầu vận dụng các thời kỳ chuyển tiếp giữa hai trạng thái của cách thở của xác thân cho sự hoạt động mãnh liệt và cho việc sử dụng quyền năng của ý chí để tạo ra các hiệu ứng huyền thuật. (LVHLT, 517)

Trong các Giáo Huấn như thế này, vốn sẽ được công chúng đọc, thì sẽ thật là rất thiếu khôn ngoan khi cung cấp các hướng dẫn rõ ràng hơn. Những hướng dẫn đầy đủ đã được giữ lại không được nói ra để làm cho nó trở thành không khả hữu cho bất kỳ ai, trừ một người môn sinh đã có nghiên cứu sâu rộng để đạt đến các mối tương quan cần thiết, chúng sẽ cho phép y xúc tiến “công việc của các thời kỳ chuyển tiếp”, mà trong đó chỉ có công tác huyền thuật mới có thể được thực hiện. Bạn có thể hỏi: Tại sao lại như vậy? Tại sao những bí mật của hơi thở được bảo vệ cẩn thận như thế? Bởi vì tính hiệu quả của hắc thuật chính là ở đây. (LVHLT, 518)

Cả nhà huyền linh học và nhà hắc thuật, như bạn thấy, đều sử dụng giai đoạn chuyển tiếp thấp, và cả hai đều biết ý nghĩa của các giai đoạn chuyển tiếp trong việc thở ở cõi trần. (LVHLT, 519)

Qua Đoàn Người Phụng Sự Thế Gian đang trong tiến trình thành lập, Thánh Đoàn đang tìm cách tự hiển lộ, và khôi phục lại những bí pháp cho nhân loại mà chúng vốn thực sự thuộc về họ. Nếu nỗ lực tiếp tục thì điều cần thiết cơ bản là tất cả các bạn, tất cả các phụngsự-viên trên thế giới, vốn đã cảm nhận được linh thị hoặc đã thấy một phần của kế hoạch dự trù, nên tự dốc sức mình trở lại cho việc phụng-sự nhân loại, nên tự cam kết thực hiện việc trợ giúp hết khả năng của bạn (hãy suy gẫm các lời này, và tìm cho ra ý nghĩa của chúng), và nên hy sinh thời giờ và cống hiến tiền bạc của bạn để thúc đẩy nỗ lực của Các Đấng Cao Cả. Trên hết, không được ngừng công việc thiền định của bạn; hãy duy trì sự liên kết bên trong; lúc nào cũng tưởng nghĩ đến chân lý. (LVHLT, 521)

Tất cả các sách vở đều là nhà tù của các ý tưởng, và chỉ khi nào lời nói và chữ viết được thay thế bởi sự giao tiếp bằng viễn cảm (telepathic communication), và bởi sự tương tác trực giác thì thiên cơ và kỹ thuật biểu lộ của nó sẽ được nắm bắt theo một cách thức rõ ràng hơn …(LVHLT, 523)

Nhưng làm thế nào mà cái bộ phận có thể hiểu được cái tổng thể? …, và hãy nhớ rằng, trong ánh sáng tri thức tương lai của nhân loại, tất cả những gì được truyền đạt ở đây giống như một độc giả thứ năm (a fifth reader) trong trường học ngữ pháp đối với các sách kiểm tra mà một giáo sư đại học sử dụng. Tuy nhiên nó sẽ dùng để nâng cấp người tìm đạo từ Phòng Học Tập vào Phòng Minh Triết (Hall of Wisdom) nếu y dùng những thông tin đã được đưa ra.

Hãy học để có viễn cảmtrực giác.  (LVHLT, 524)

+ Nhân loại cấu thành một trung tâm năng lượng trong vũ trụ, có thể có ba hoạt động.

I. Trước hết, nhân loại đáp ứng với dòng lưu nhập (inflow) của năng lượng tâm linh. Dòng này đổ vào nhân loại từ vũ trụ, và nói một cách tượng trưng thì các năng lượng này về cơ bản có ba loại:

1. Năng lượng tâm linh, như chúng ta gọi nó một cách không thích hợp. Năng lượng này xuất phát từ Ngôi Cha, và đi đến nhân loại từ cảnh giới được gọi theo chuyên môn là cõi Chân Thần, …. Đối với đa số người thì năng lượng đó thực tế không tồn tại. Tôi dùng các từ ngữ “Đức Chúa Cha” (“God the Father”) theo ý nghĩa của Sự Sống Tự Tồn Duy Nhất (the One Self Existent Life), hay là Đấng Tuyệt Đối (Absolute Being).

2. Năng lượng có tri giác (sentient energy) − năng lượng này làm cho con người thành một linh hồn. Đó là nguyên khí ý thức, khả năng của tâm thức, một cái gì đó, vốn có trong vật chất (khi được đưa vào mối tương quan với tinh thần), vốn đánh thức sự đáp ứng với môi trường tiếp xúc sâu rộng bên ngoài. ….Năng lượng hữu cảm thức (sentient consciousness) này đến từ ngôi hai của Thượng Đế, từ tâm của mặt trời, giống như năng lượng thứ nhất, nói tượng trưng về mặt chuyên môn, phát xuất từ mặt trời tinh thần trung ương. Song song với hai loại lực này trong con ngườinăng lượng thần kinh hoạt động qua hệ thần kinh với tổng chỉ huy ở trong não bộ, và năng lượng sự sống được đặt ở tim.

3. Năng lượng prana hay sinh lực (vitality). Đây là sinh lực (vital force), vốn có trong chính vật chất, và mọi hình hài đều được nhúng chìm trong đó, vì chúng cấu thành các bộ phận chức năng của hình hài vĩ đại hơn. Mọi hình hài đều đáp ứng với năng lượng này. Loại năng lượng này đến từ mặt trời hồng trần và hoạt động tích cực trên các thể sinh lực của mọi hình hài trong thế giới thiên nhiên, kể cả thể xác của chính nhân loại.
Trong thuật ngữ của Minh Triết Muôn Thuở (Wisdom Ageless), cả ba năng lượng này được gọi là lửa điện, lửa thái dương, và lửa do ma sát, mục đích của chúng có liên quan với nhau, được tóm tắt cho chúng ta trong những lời của Bộ Giáo Lý Bí Nhiệm như sau:

Vật Chất là hiện thể biểu lộ của Linh Hồn trên cõi hiện tồn này, và Linh Hồn là hiện thể biểu lộ trên một cõi cao hơn của Tinh Thần, và cả ba là một Trinity (Thượng Đế Ba Ngôi), được tổng hợp bởi Sự Sống đang thấm nhuần tất cả chúng” (GLBN I, 80).
Nhân loại, là chỗ gặp nhau cho cả ba loại năng lượng, do đó tạo thành một “điểm giữa chừng”, trong tâm thức của Đấng Tạo Hóa. (LVHLT, 526)

Đa số con người đều giống như hàng triệu tế bào não không được sử dụng, mà nhà tâm lý học và các nhà khoa học bảo với chúng ta rằng chúng ta có nhưng không dùng đến.(LVHLT, 527)

Thánh Đoàn huyền môn đối với Sự Sống hành tinh giống như ánh sáng trong đầu đối với vị đệ-tử thức tỉnh bậc trung,.(LVHLT, 528)

Các công dụng của sự đau khổ thì nhiều, và chúng dẫn dắt linh hồn con người ra khỏi bóng tối đi vào ánh sáng, ra khỏi sự trói buộc đi vào giải thoát, ra khỏi sự thống khổ đi vào sự an bình. Sự an bình đó, ánh sáng đó và sự giải thoát đó, cùng với sự hài hòa đã an bài của vũ trụ được dành cho tất cả các con của nhân loại. (LVHLT, 533)

+ Do đó chúng ta có ba Nguyên Lý:
1. Nguyên Lý Hạn Định (Principle of Limitation).
2. Nguyên Lý Biểu Lộ theo Chu Kỳ (Principle of Periodic Manifestion).
3. Nguyên Lý Mở Rộng (Principle of Expansion).
Ba Nguyên Lý này cùng nhau tạo thành các yếu tố căn bản của Định Luật Tiến Hóa như con người gọi nó. (LVHLT, 534)

Hãy luôn nhớ rằng mỗi lĩnh vực nhận thức trong các ranh giới của nó đều tạo thành một nhà tù, và rằng mục tiêu của mọi công việc giải thoát là để phóng thích tâm thức và mở rộng lĩnh vực tiếp xúc của nó. Nơi nào có các ranh giới thuộc bất kỳ loại nào, nơi nào mà một lĩnh vực ảnh hưởng bị hạn chế, và nơi nào mà phạm vi tiếp xúc bị giới hạn, thì nơi đó bạn có một nhà tù. Hãy suy ngẫm về phát biểu này vì nó nắm giữ nhiều chân lý. ….  Bản năng, vốn đang chi phối giới thực vật và giới động vật, phát triển thành trí tuệ trong gia đình nhân loại. Sau đó trí tuệ hòa nhập vào trực giác; và trực giác hòa nhập vào sự giác ngộ. Khi tâm thức siêu nhân loại được khơi hoạt, cả hai trực giác và sự giác ngộ – thay thế cho bản năng và trí thông minh. (LVHLT, 535)

Mọi cấp độ vật chất đều hội tụ trong con người, và mọi trạng thái tâm thức đều có thể xảy ra với y. Nhân loại có thể hoạt động theo mọi hướng, nâng các giới dưới nhân loại vào cõi trời và mang thiên đàng xuống cõi trần. (LVHLT, 538)

 

QUY LUẬT MƯỜI BA

Nhà huyền thuật phải nhận ra cái bốn; hãy chú ý trong công việc của y cái hình bóng màu tím mà chúng chứng tỏ, và cái bóng được tạo ra như thế. Khi điều này là như vậy, cái bóng bao phủ chính nó, và bốn trở thành bảy.

Các Tứ Nguyên (Quaternaries) được Nhận Biết.
Sự Kết Tụ của Các Hình-Tư-Tưởng.

QUI LUẬT MƯỜI BA
CÁC TỨ NGUYÊN ĐƯỢC NHẬN BIẾT

Đối với Tôi, qui luật này là một trong những qui luật khó giải thích nhất, vì ba lý do:

1. Số người đang đầu thai vào lúc này,…..

2. Sự nguy hiểm của các giáo huấn cặn kẽ và chi tiết …….Tập hợp rộng lớn các loài côn trùng, vốn đang ám ảnh hành tinh chúng ta ngày nay, và gây ra sự lo lắng ngày càng tăng cho nhà khoa học, nhà nông học, và tất cả những người đang giải quyết sự an toàn của người và vật, là kết quả trực tiếp của sự kết tụ tư tưởng (thought precipitation).

Tôi không có thời gian để bàn rộng về sự kiện này, nhưng Tôi có thể đảm bảo với bạn rằng khi con người học cách suy tưởng một cách vị tha hơn và thanh khiết hơn, và khi sự ác ý, thù hận và tranh chấp nhường chỗ cho tình huynh đệ, lòng tử tế và sự hợp tác, thì sự gây hại do côn trùng, như nó được gọi hiện nay, sẽ hầu như chắc chắn bị tiêu diệt.

3. Một sự khó khăn khác mà Tôi trải qua trong khi minh giải các qui luật nằm ở sự kiện là, ngày nay, để chứng minh một thực tế rằng có một lĩnh vực của trí tuệ thì dễ dàng hơn là chứng minh rằng có một lĩnh vực của dĩ thái, cho dù các nhà khoa học sử dụng từ ngữ này một cách rộng rãi. Qui luật này liên quan đến bốn cấp độ chất dĩ thái vốn cấu thành lớp vỏ dĩ thái của mọi hình hài trong thiên nhiên, từ một ngọn núi cho đến một con kiến, và từ một cái cây cho đến một nguyên-tử. Một số nhà khoa học công nhận sự thực về một thể dĩ thái, còn số lớn thì không, và theo quan điểm của số đông nhân loại, thể dĩ thái vẫn không được công nhận. (LVHLT, 542)

+ Chúng ta cũng được dạy rằng có tồn tại những người hoạt động trong bốn chất dĩ thái, và chắc chắn họ thực hiện được những công việc huyền thuật, tuy nhiên những người này không có sự trong sạch cần thiết và lòng nhân ái đã được đề cập tới. Điều này chắc chắn là đúng; họ thuộc về một nhóm những người hoạt động trong vật chất, mà chúng ta gọi là Các Nhà Hắc Thuật; họ phát triển cao về trí tuệ, và có thể kích hoạt chất trí (mental substance or mind stuff) theo cách sao cho nó có thể đạt được sự biểu lộ ra ngoài trên cõi trần, và dẫn đến mục đích sâu xa của họ. (LVHLT, 543)

+ Quy luật này là một ví dụ lý thú nhất mang nhiều hàm ý và nhiều sự tương ứng vốn có thể được truyền đạt trong một vài từ đơn giản. Chúng ta được dạy rằng y phải “nhận ra bốn”. Bộ Luận Về Lửa Càn Khôn cho chúng ta biết: …. Tứ Linh Diệu (Tetraktys) đảo ngược’…

===> Do đó, ý nghĩa hiển nhiên và rõ ràng nhất là sự nhận biết được bốn dĩ thái, nhưng điều này, đến lượt nó, lại phụ thuộc vào các ý nghĩa khác, và được dựa trên sự nhận biết về các tứ bộ (quaternaries) khác. Tôi muốn đưa ra một bản tóm tắt ngắn về một số các phẩm tính mà nhà huyền linh thuật cần có, và một số các nhận thức vốn sẽ dần dần xuất hiện trong tâm thức của y.

Thứ nhất, y phải nhận biết “bốn tạo thành Một”. Nói cách khác, tứ bộ đầu tiên mà y phải biết và biết rõ là tứ bộ mà về cơ bản là chính y:

1. Thể xác, bản chất cảm xúc nhạy cảm, thể trílinh hồn;
2. Linh hồn, thể trí, não bộ và thế giới bên ngoài của các mãnh lực;
3. Tinh thần, linh hồnthể xác bên trong Tổng Thể vĩ đại (great Whole).

Do đó, điều này hàm ý sự thành đạt tâm linh thực sự và năng lực để hoạt động như một linh hồn. Cho đến khi điều này đã đạt được, bằng không thì người ta có thể là một người khao khát thực hành huyền thuật, nhưng người đó vẫn chưa là một nhà huyền linh thuật.

Thứ hai, y phải nhận biết “thành phố vẫn vững chắc/ vuông vức” (“the city that stands foursquare”). Y phải hiểu được ý nghĩa của “con người, khối lập phương”, và hiểu theo ba cách:

1. Bản thân y là một con người;
2. Đồng bào của y có liên quan với chính y và Tổng-Thể;
3. Giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại, khi xét toàn bộ giới đó như một thực thể, một sự sống có tổ chức hoạt động trên cõi trần, nơi trú ngụ của linh hồn, được tinh thần làm sinh động. (LVHLT, 546)

Thứ ba, nhà huyền linh thuật phải nhận biết thập giá đang đứng ở các cõi Trời mà trên đó Đức Christ vũ trụ chịu đóng đinh, và trên đó các nhà huyền linh thuật, vốn là một tế bào trong thể của Đức Christ vũ trụ, cũng bị đóng đinh. Nói về mặt chuyên môn và chiêm tinh học, trong thiên kỷ (aeon) hiện tại này, y phải hiểu được ý nghĩa bên trong của cung Kim Ngưu, của cung Hải Sư, của cung Hổ Cáp và của cung Bảo Bình, vì chúng rất mạnh trong chu kỳ thế giới của chúng ta. Nếu Tôi có thể diễn tả điều đó một cách tượng trưng, và đồng thời cũng chính xác, thì y phải có thể nói lên sự thành đạt vốn là mục tiêu cho nỗ lực của y ở mỗi một trong bốn cung hoàng đạo này, và dưới mỗi một trong bốn quyền năng này. Trong Kim Ngưu, y phải có thể nói: “Tôi tìm kiếm giác ngộ, và chính tôi là ánh sáng”. Trong Hải Sư, y sẽ nói: “Tôi biết tôi là đấng duy nhất. Tôi cai trị bằng Định Luật”. Ngôn từ mà y sẽ thốt ra trong Hổ Cáp là:Ảo giác (Illusion) không thể giữ tôi. Tôi là loài chim đang bay với sự tự do hoàn toàn”. Trong Bảo Bình, các lời lẽ được nói sẽ là: “Tôi là người phụng sự, và tôi, người phân phối, là nước hằng sống”.(LVHLT, 548)

+ Tôi có thể mở rộng về nhiều bộ bốn khác nữa, … Bộ bốn duy nhất khác mà Tôi sẽ lưu ý là cái được nói đến như là bộ bốn màu tím (violet four), hay là bốn loại năng lượng cấu thành thể dĩ-thái hay thể sinh lực của mọi hình hài trong thế giới thiên nhiên. Ở đây một lần nữa chúng ta có một bộ ba cao và một cái thấp, vốn luôn luôn biểu thị ba khía cạnh hay ba nguyên khí của thiên tínhhình hài, mà qua đó bộ ba này phải biểu lộ. Tinh thần, linh hồnxác thân diễn tả cùng ý tưởng theo một góc độ khác, cộng thêm với những gì được tạo ra qua sự tương tác của chúng. Phải luôn luôn nhớ rằng theo quan điểm của Thực Tại, những gì mà chúng ta gọi là thể xác trọng trược, hữu hình và thuộc thế giới khách quan, chỉ là một ảo tưởng. Chúng ta được dạy đi dạy lại trong các tác phẩm cổ xưa rằng nó không phải là một nguyên khí. Tại sao lại như vậy? Bởi vì nó chỉ là một vẻ ngoài (appearance) được mang lại bởi sự kết hợp của ba cái cao và cái thứ tư, và vẻ ngoài này là một điều hư cấu (fiction) hay điều tưởng tượng (figment) của trí người.

Bốn cấp độ này được phản ánh trong bốn mức độ phân chia dĩ thái của cõi trần về phần thể xác của tất cả các hình hài. Bốn mức độ dĩ thái này hay bốn cấp độ này của sinh chất (vital subtance) tạo thành cái được gọi là “hình hài đích thực” của mọi đối tượng hoặc hiện tượng vật chất,……….Ở mỗi một trong bốn giới trong thiên nhiên, tất cả bốn loại đều được tìm thấy, nhưng dĩ thái thứ tư được tìm thấy ở mức độ đầy đủ hơn trong giới khoáng chất so với trong con người, trong khi loại cao nhất trong bốn chất dĩ thái được tìm thấy với tỷ lệ lớn hơn trong giới nhân loại so với trong ba giới kia…..Chẳng hạn, Tôi có thể minh họa điều này bằng cách nói rằng khi hoạt động trong giới khoáng chất, là giới thứ tư trong thiên nhiên theo quan điểm của Thượng Đế, và là giới thứ nhất theo quan điểm của thời giankhông gian, y sẽ làm việc với chất dĩ thái vũ trụ thứ tư (năng lượng bồ đề), sử dụng dĩ thái ở cấp độ thứ tư trong chính thể của y như là tác nhân truyền chuyển, và cứ như thế, liên quan với ba giới khác trong thiên nhiên. May thay, một trong những bí ẩn chưa được tiết lộ có liên quan đến câu hỏi là màu tím nhạt là màu của dĩ thái cao nhất hay là màu của dĩ thái thấp nhất trong bốn cấp độ dĩ thái, và điều này sẽ không được tiết lộ trong ít lâu nữa.(LVHLT, 550)

+ Thuật ngữ “sự nhận thức” (“recognition”) là một trong những từ ngữ quan trọng nhất trong ngôn ngữ của huyền linh học, và nó nắm giữ manh mối đối với bí nhiệm của Sự Hiện Tồn (Being). Nó được liên kết với hoạt động nghiệp quả, và các Đấng Chủ Quản (Lords) của Thời GianKhông Gian dựa vào nó. Thật khó minh họa điều này bằng các thuật ngữ đơn giản, nhưng có thể nói rằng vấn đề của chính Thượng Đế là ở điều này, đó là Ngài phải biểu lộ một sự nhận thức tam phân (threefold recognition):
1. Sự nhận thức về quá khứ, tất nhiên đòi hỏi một sự nhận thức về vấn đề đó trong không gian, mà, qua sự liên kết trong quá khứ, đã bị nhuốm màu bởi tư tưởng và mục đích.
2. Sự nhận thức về bốn cấp độ sự sống mà, một lần nữa qua sự liên kết trong quá khứ, có khả năng đáp ứng với tư tưởng mới của Thượng Đế đối với hiện tại, và do đó, có thể thực thi các kế hoạch của Ngài và hoạt động cộng tác với Ngài. Họ đưa các mục đích cá nhân của họ vào kế hoạch thiêng liêng duy nhất.
3. Sự nhận thức về mục tiêu đang tồn tại trong Thiên Trí của Thượng Đế. Đến lượt nó, việc này đòi hỏi một sự tập trung nhất tâm vào mục tiêu, và giữ cho mục tiêu còn nguyên vẹn trong suốt những thăng trầm của công việc sáng tạo, và bất chấp uy lực của nhiều Chủ Thể Tư Tưởng thiêng liêng, các vị này đã bị thu hút đến Ngài bởi sự tương tự về ý tưởng.(LVHLT, 556)

+ Chân Sư của các Chân Sư đã nói: “Nếu mắt ngươi là duy nhất, toàn bộ thân thể ngươi sẽ tràn đầy ánh sáng”. Những lời mà Ngài đã nói cung cấp cho chúng ta một nguyên lý nền tảng cho toàn bộ công việc sáng tạo, và chúng ta có thể liên kết ý tưởng mà Ngài đã che đậy trong các lời này với biểu tượng mà Tôi đã mô tả trước đó trong Bộ Luận này. Quyền năng, ánh sáng, sức sống, và sự biểu lộ! Đó là thể thức đúng đắn

Do đó, điều hiển nhiên sẽ là tại sao đơn vị biểu lộ, tức con người, được thôi thúc để năng động trong sự tìm kiếm của y và để nuôi dưỡng khát vọng của y. Khi khát vọng đó đủ mạnh, bấy giờ y được thôi thúc để đạt được năng lực “giữ cho thể trí của y ổn định trong ánh sáng . Khi y có thể làm được điều này, y sẽ đạt được quyền năng và sở hữu con mắt duy nhất đó, nó sẽ góp phần đưa đến vinh quang của thánh linh ngự bên trong. Tuy nhiên, y không thể được phó thác cho quyền năng trước khi y đã làm chủ diễn trình phát triển này….(LVHLT, 559)

+ Ở đây có thể là hữu ích nếu Tôi diễn tả thật đơn giản các yêu cầu cần thiết để mang lại sự biểu lộ của mục đích tâm linh cá nhân, hoặc mục đích tâm linh tập thể. Các điều này có thể được tóm gọn trong ba chữ:
1. Quyền năng (Power).
2. Tính dứt bỏ (Detachment).
3. Tính không chỉ trích (Non-criticism).
Những từ đơn giản rất thường được dùng vì ý nghĩa quen thuộc của chúng, còn ý nghĩa thực sự và giá trị huyền bí của chúng thì bị mất đi.

–   Quyền năng phụ thuộc vào hai yếu tố để biểu lộ:

a/ Sự chuyên tâm (singleness of purpose): Các đạo sinh sẽ ngạc nhiên nếu họ có thể nhìn thấy các động cơ của họ khi chúng ta thấy chúng vốn hướng dẫn ở khía cạnh chủ quan của kinh nghiệm. Động cơ hỗn hợp là phổ quát. Động cơ thuần nhất thì hiếm có và nơi nào mà nó tồn tại thì bao giờ cũng có sự thành công và thành tựu;

b/ Thiếu những trở ngại (lack of impediments).

– Yêu cầu thứ hai là tính dứt bỏ : Bí quyết cho mọi người tìm đạo là trau dồi thái độ của kẻ bàng quan và của người quan sát im lặng, và, Tôi xin nhấn mạnh từ im lặng (silent). Nhiều hoạt động huyền thuật chân chính đi đến con số không (naught) do người hoạt động và người kiến tạo trong vật chất không giữ im lặng. Do lời nói sớm và nói quá nhiều, y giết chết những gì mà y đã cố gắng để tạo ra, đứa con tư tưởng của y bị chết non Việc vun bồi một thái độ dứt bỏ thuộc về cá nhân, với thái độ gắn bó thuộc về tinh thần, sẽ cắt tận gốc rễ cuộc sống của con người; nhưng nó sẽ hoàn lại gấp một ngàn lần cho tất cả những gì mà nó cắt đi.

– Tính không chỉ trích (non-criticism) là yêu cầu thứ ba. Tôi sẽ nói gì về điều đó? Tại sao nó được coi là một yêu cầu rất thiết yếu? Bởi vì tính chỉ trích (phân tích và, hậu quả tất nhiên là sự chia rẽ) là đặc tính nổi bật của loại tâm trí và cũng của mọi phàm-ngã phối kết. Bởi vì tính chỉ trích là một yếu tố mạnh mẽ trong việc đưa đẩy chất trí và chất tình cảm vào hoạt động, và vì thế, tạo ấn tượng mạnh mẽ lên các tế bào não và thể hiện ra thành lời…….Trong áp lực của cơ hội hiện tại, không có thời gian cho tính chỉ trích tồn tại giữa những người phụng sự. Họ cản trở lẫn nhau và họ gây trở ngại cho công việc.
Vào lúc này, Tôi đang có một cảm giác về sự cấp bách. Tôi khẩn thiết kêu gọi tất cả những ai đọc được các Huấn Dụ này hãy quên đi các điều ưa thích và không ưa thích của họ, và bỏ qua những chướng ngại thuộc về phàm-ngã, vốn chắc chắn đang tồn tại trong chính họ và trong tất cả những ai đang hoạt động trên cõi trần, do phàm ngã gây cản trở (LVHLT, 558)

 

QUY LUẬT MƯỜI BỐN (LVHLT, 565)

Âm thanh nổi lên. Giờ nguy hiểm cho linh hồn dũng cảm đến gần. Khối nước đã không gây tổn thương cho vị sáng tạo trên bạch đạo, và không gì có thể dìm chết cũng không thể làm sũng ướt y. Sự nguy hiểm từ lửa và bây giờ ngọn lửa đang đe dọa, và, người ta thấy cuộn khói bốc lên mờ mờ. Sau chu kỳ bình an, y hãy kêu gọi đến Thái Dương Thiên Thần lần nữa.

Các Trung Tâm LựcPrana. Việc Sử Dụng Đôi Tay.
Việc Bước Đi trên Thánh Đạo.
Việc Khơi Hoạt các Bí Huyệt.

QUI LUẬT MƯỜI BỐN
CÁC TRUNG TÂM LỰCPRANA

Có nhiều cách mà theo đó qui luật này có thể được giải thích. Chúng ta có thể nghiên cứu hoạt động của thái dương Thiên Thần khi vị này tiếp cận cõi trần trọng trược để đầu thai, và do đó đạt đến điểm quyết định trong công việc sáng tạo của ngài, ở đó, lớp vỏ tam phân ở vào giai đoạn mà, một cách chắc chắn và không thể tránh khỏi, nó phải tiếp xúc với trạng thái vật chất

Thần bị che khuất. Vị này nhìn xuyên qua lửa và qua màn sương, và thấy sự biến dạng và sự phản chiếu. Những gì mà y thấy chắc chắn là sai lạc.

Khi lớp áo này đã được Thái Dương Thiên Thần khoác vào, thì một giai đoạn cuối cùng được đạt đến, lửa thái dươnglửa do ma sát phải được đưa vào tiếp xúc với ba “loại lửa cổ xưa nhất”. Đây là các lửa của vật chất khách quan của cõi trần trọng trược, hay của các đơn vị năng lượng vật chất mà chúng ta thường bao gồm bằng các từ “chất khí, chất lỏng và chất đặc”, một cụm từ vô nghĩa và chỉ được sử dụng đối với chúng ta, thông qua giáo huấn về sự biến phân. Ba thứ lửa cổ xưa này là một trạng thái của lửa do ma sát.

Chúng ta cũng có thể nghiên cứu Qui Luật này theo quan điểm của điểm đạo đồ,………

+ Chúng ta có thể nghiên cứu Quy Luật này theo quan điểm của người tìm đạo, khi y học cách làm việc với năng lượng và với các mãnh lực của thiên nhiên, khi y tìm hiểu ý nghĩa và mục đích của thể sinh lực, và có được quyền năng trong việc kiểm soát các thứ lửa sinh động (vital fires) tức là các pranas của chính hệ thống nhỏ của y. Theo Tôi, dường như đối với mục đích đặc biệt của chúng ta thì đường lối tiếp cận này sẽ hữu dụng nhất

Các Giáo Huấn này được dự định cho những ai quan tâm rõ rệt đến con đường giải thoát khỏi hình hài, và đang tìm cách tự dọn mình để hoạt động trong sự hợp tác với Đại Bạch Giai (Great White Lodge). Họ đang học những bước đầu tiên trong công việc huyền thuật, và do đó, đối với họ, một sự hiểu biết về các luồng hỏa và về các năng lượng mà họ phải làm việc với chúng có tầm quan trọng hàng đầu. Do đó, chúng ta sẽ giới hạn sự chú ý của chúng ta vào giai đoạn này của công tác vĩ đại đó, và không xem xét công việc của linh hồn khi nó lâm phàmbiểu lộ ra thế giới khách quan thông qua một hình hài, cũng không xem xét công việc của các điểm đạo đồ khi họ hoạt động như các nhà huyền thuật sáng tạo dưới xung lực tập thể và nhờ một sự hiểu biết sáng suốt về cơ tiến hóa. Các Giáo Huấn này được dự định để thực hành, và để truyền đạt sự chỉ dạy cần thiết cho những đạo sinh nào có thể đoán được ẩn ý (hiểu được “ý tại ngôn ngoại”), và đang phát triển năng lực thấy được ý nghĩa huyền bí đằng sau các màn che bên ngoài và các hình thức ngoại môn.

Bây giờ chúng ta sẽ xem xét các pranas, và ở đây Tôi sẽ trích dẫn một vài đoạn từ Ánh Sáng Của Linh Hồn, có mô tả về các pranas này. Chúng ta tìm thấy trong Quyển II, câu Kinh 39 nói rằng có năm trạng thái của prana, tác động xuyên qua thể dĩ thái, và do đó cấu thành toàn bộ thể dĩ thái hay thể sinh lực.

Prana biểu lộ thành năm phần, như thế tương ứng với năm trạng thái trí tuệ, nguyên khí thứ năm, và với năm biến thái của nguyên khí suy tư. Trong thái-dương-hệ, prana thể hiện thành năm trạng thái năng lượng vĩ đại mà chúng ta gọi là các cõi, là môi trường (medium) của tâm thứcNăm biến phân của prana trong thể con người là:

“1. Prana, trải dài từ mũi đến tim và có mối quan hệ đặc biệt với miệng và tiếng nói, tim và phổi.

“2. Samana trải dài từ trung tâm đến đan điền (solar plexus), nó liên quan đến thực phẩm và sự nuôi dưỡng thể qua thức ăn và thức uống, và có mối quan hệ đặc biệt với dạ dày.

“3. Apana kiểm soát từ đan điền tới lòng bàn chân, nó liên quan đến các cơ quan bài tiết, đào thải và sinh sản, như vậy có mối quan hệ đặc biệt với các cơ quan sinh sản và bài tiết.

“4. Upana nằm giữa mũi với đỉnh đầu; nó có mối quan hệ đặc biệt với não, mũi và mắt, và khi được kiểm soát thích hợp, nó tạo ra sự kết hợp của các sinh khí (vital airs) và việc sử dụng chúng một cách chính xác.

“5. Vyana là thuật ngữ được áp dụng cho toàn bộ năng lượng prana khi nó được phân phối đều khắp thể. Các khí cụ của nó là hàng ngàn kinh mạch (nadis) hoặc dây thần kinh trong thể, và nó có một mối quan hệ đặc biệt rõ ràng với các mạch máu, các tĩnh mạch và động mạch. (Trang 329 – 330)

Thể dĩ tháithể sức mạnh hay thể sinh lực, và nó thấm vào mọi phần của hiện thể trọng trược (xác thịt). Nó là nền tảng, là bản thể thực sự của thể xác. Tùy theo bản chất của mãnh lực đang làm sinh động thể dĩ thái, tùy theo sự hoạt động của lực ấy trong thể dĩ thái, tùy theo sự linh hoạt hay trì trệ của các bộ phận quan trọng nhất của thể dĩ thái (các bí huyệt trên xương sống), mà thể xác cũng sẽ có hoạt động tương ứng như thế. Một cách tương tự và có tính cách tượng trưng, tùy theo sự nguyên vẹn của bộ máy hô hấp, và tùy theo năng lực của bộ máy đó để oxy hóa và làm tinh khiết máu,sức khỏe hoặc sự toàn vẹn của thể xác sẽ tốt hoặc xấu”. (Trang 218 – 219).

Chúng ta cũng thấy nói rằng các thần lực, vốn tạo nên thể sinh lực hay các pranas khác nhau từ đó nó được kiến tạo, phát ra:
“a. Từ hào quang của hành tinh. Trong trường hợp này đó là prana hành tinh, và như thế liên quan chủ yếu tới lá lách và sức khỏe của thể xác.
“b. Từ cõi cảm dục xuyên qua thể cảm dục. Đây sẽ là thần lực cảm dục thuần túy, và sẽ ảnh hưởng chủ yếu tới các bí huyệt dưới cơ hoành.
“c. Từ toàn linh trí hay là thần lực trí tuệ. Đây phần lớn sẽ là mãnh lực tư tưởng và sẽ đi tới bí huyệt cổ họng.
“d. Từ chính chân ngã, chủ yếu là kích thích các bí huyệt đầu và tim”. (Trang 220).

Chúng ta cũng đọc thấy rằng “hầu hết con người nhận được thần lực chỉ từ cõi trần và cõi cảm dục, nhưng các đệ-tử cũng nhận thần lực từ các mức độ trí tuệchân ngã. Cuối cùng, chúng ta đọc:

“Điều này có thể giúp cho đạo sinh nếu y nhận thức rằng sự kiểm soát prana đúng đắn bao hàm sự nhận thức rằng năng lượng là toàn bộ sự sống và sự biểu lộ, và ba thể thấp là các thể năng lượng, mỗi thể tạo thành một hiện thể cho loại năng lượng cao hơn, và bản thân chúng là các tác nhân truyền chuyển năng lượng. Các năng lượng của phàm-ngã là các năng lượng của ngôi ba, Ngôi Thánh Linh hay trạng thái Brahma. Năng lượng của chân nhânnăng lượng của ngôi hai, thần lực Christ, hay bồ đề (buddhi). Mục tiêu của sự tiến hóa trong gia đình nhân loại là mang thần lực Christ, tức nguyên khí bồ đề, vào sự biểu lộ đầy đủ trên cõi trần, và điều này được thực hiện nhờ việc sử dụng phàm-ngã tam phân. (Trang 227).

Điều này cung cấp một bức tranh tổng quát về đề tài nghiên cứu của chúng ta, và cho chúng ta những sự kiện cơ bản mà mọi tư tưởng của chúng ta đều phải dựa vào. Do đó, khi chúng ta nghiên cứu đoạn trên thì điều trở nên hiển nhiên là người tìm đạo có ba việc cần làm:

Thứ nhất, y phải tìm hiểu bản chất của các năng lượng hay các pranas, vốn đã đưa sản phẩm sáng tạo kỳ diệu của y, tức thể xác, vào biểu lộ và duy trì nó trong một tình trạng sao cho y có thể hoặc không thể nhanh chóng thành tựu mục tiêu tinh thần của linh hồn y. Bài học này bao gồm:

a/ Đạt đến một sự hiểu biết về những thần lực nào vốn đặc biệt mạnh mẽ trong kiếp sống của y, và dường như điều khiển các hoạt động của y. Điều này sẽ mang đến cho y kiến thức về các bí huyệt nào của thể dĩ thái của y được đánh thức, và bí huyệt nào còn ngủ yên. Mọi người tìm đạo phải hiểu rõ điều này trước khi họ có thể thực sự chuyên tâm vào sự huấn luyện thực sự cho địa vị đệ tử.

b/ Hiểu rõ mối liên hệ giữa các thần lực của thiên nhiên mà y đã chiếm hữu để sử dụng riêng cho mình, và vốn tạo thành toàn bộ các năng lượngnhân, trí tuệ, tình cảm và sinh khí của y, với những thần lực tương tự được tìm thấy trong thế giới tự nhiên và chi phối sự biểu lộ của Đại Thiên Địa (Macrocosm).

c/ Học cách làm việc với các năng lượng này theo một cách thức thông minh, để mang lại ba diễn biến:

− Một sự hợp tác hài hòa với thái dương Thiên Thần của chính y, để cho mãnh lực thái dươngthể áp đặt nhịp điệu của nó lên các mãnh lực thái âm (lunar forces).

− Một sự đáp ứng sáng suốt và sự liên kết với nhóm các Phụng-Sự-Viên Thế Gian, nhóm này, vào bất cứ thời điểm cụ thể nào, đã đảm trách công việc điều khiển các thần lực của thiên nhiên bằng quyền năng tư tưởng của họ, và như thế dẫn dắt toàn bộ đoàn thể sáng tạo tiến về phía trước theo đường lối của mục đích thiêng liêng.

− Việc tạo ra trên cõi trần một phàm-ngã thích hợp cho công việc sáng tạo của nó, và có khả năng đối với các hình thức hoạt động phát xuất từ thể trí, sẽ cho phép y đẩy mạnh hoạt động của các lực điều khiển.

Thứ hai, học cách sống như một linh hồn, và do đó, không còn đồng nhất hóa với phàm-ngã. Việc này mang lại ba điều:

a/ Một khả năng thu hồi vào ý thức trong đầu, và từ nơi cao đó điều khiển cuộc sống của phàm-ngã.
b/ Năng lực để chuyển qua các bí huyệt khác nhau trong thể các thần lựcnăng lượng vũ trụ nào cần thiết cho công việc thế gian. Điều này phải được thực hiện một cách hữu thức và trong sự nhận thức đầy đủ về cội nguồn mà chúng phát sinh, về phương cách hoạt động của chúng, và về mục đích mà chúng phải được sử dụng. Điều này cũng bao hàm sự hiểu biết về thần lực nào có liên quan đến một bí huyệt. Do đó điều này bao hàm sự cần thiết phải phát triển các bí huyệt, để đưa chúng vào một trạng thái mạnh mẽ, và để hòa hợp chúng thành một nhịp điệu thống nhất.
c/ Do đó, năng lực để làm việc theo ý muốn qua trung gian của bất kỳ bí huyệt đặc biệt nào đó. Điều này chỉ có thể xảy ra khi linh hồn thể an trụ như Đấng Trị Vì (the Ruler) trên “ngai vàng giữa hai chân mày”, và khi hỏa xà Kundalini mà về mặt huyền linh gọi là đã được đi lên. Lửa này phải đi lên qua cột sống và đốt cháy đường đi của nó xuyên qua mạng lưới vốn chia tách bí huyệt này với bí huyệt khác trên “Quyền Trượng Bằng Vàng (“Golden Rod of Power”).

Thứ ba, học cách nghiên cứu các phản ứng trên những người khác về bất cứ năng lượng nào mà y có thể biểu lộ qua phàm-ngã của y, hoặc, nếu y là một điểm đạo đồ và do đó là một phụng-sự-viên hữu thức với Thiên Cơ, thì đó có thể là đặc quyền của y để sử dụng hoặc truyền chuyển. Nhờ một sự nghiên cứu kỹ lưỡng về “ảnh hưởng” cá nhân của y trên các huynh đệ của y, khi y sống giữa họ, và khi y suy tưởng, nói năng và hành động, y tìm hiểu được bản chất của loại thần lực vốn có thể tuôn đổ qua y. Nhờ đó, y có thể đạt đến một sự hiểu biết về chủng loại, tính chất, sức mạnh và tốc độcủa nó. Bốn từ ngữ này chứng thực cho việc xem xét và minh giải…(Xem chi tiết tại trang 574)

CÔNG DỤNG CỦA ĐÔI BÀN TAY

Ở đây, thật là có giá trị khi chúng ta bàn đến việc vận dụng thần lực để cung cấp một ít thông tin về công dụng của đôi bàn tay trong công việc như thế. Một trong các Chân Sư đã nói: “Chính là chỉ với bàn tay được trang bị và sẵn sàng hoặc để chinh phục hoặc để tàn lụi đi, mà nhà thần bí hiện đại mới có thể hy vọng đạt được mục tiêu của mình”.

Những lời này có ý nghĩa nhất, và có thể là hợp lý khi nghiên cứu vắn tắt về loại của những bàn tay, và tính chất của chúng giúp phân biệt các môn đệ. Trong mọi hình thức của giáo lý huyền môn, bàn tay đóng một vai trò quan trọng, và điều này có bốn lý do:
1. Chúng là biểu tượng của sự hoạch đắc.
2. Chúng là các trung tâm lực.
3. Chúng là những kẻ vận dụng thanh kiếm.
4. Khi được sử dụng một cách vị tha, chúng là:
a/ Các khí cụ chữa trị.
b/ Các tác nhân mà nhờ đó vặn được một số chìa khóa.
Khi xem chúng như là các biểu tượng của sự hoạch đắc, phải nhớ rằng nơi người bậc trung, chúng được sử dụng để “nắm và giữ”, và để có những gì mà con người cần cho y và cho sự thỏa mãn ham muốn ích kỷ của y. Nơi Chân Nhân, hai bàn tay vẫn là những biểu tượng của sự hoạch đắc, nhưng Chân Nhân chỉ nắm những gì cần để trợ giúp cho tập thể, và tung ra ngay lập tức hướng tới mục đích đó những gì mà chân nhân đã có được như thế. Vị điểm đạo đồ không giữ gì cho chính mình;

Với tư cách là các trung tâm lực, đôi bàn tay đóng một vai trò mạnh nhất, và là vai trò ít được hiểu biết. Việc mà đôi bàn tay của một vị đệ-tử (một khi y đã có được sự hoạch đắc vốn được dựa trên công việc tập thể vị tha) trở thành những tác nhân truyền năng lượng tâm linh là một sự thật huyền bí. Việc “đặt tay lên đầu một người nào đó để ban phúc” không phải là nhóm từ vô căn cứ. Về mặt huyền linh, việc đặt tay lên đầu có thể được nghiên cứu theo bốn khía cạnh:
1. Trong việc chữa bệnh. Trong trường hợp này thần lực tuôn đổ qua hai bàn tay, đến từ hai cội nguồn, và xuyên qua hai bí huyệt dĩ thái, đó là lá lách và tim.
2. Trong việc kích thích bất kỳ bí huyệt đặc biệt nào. Năng lượng được dùng trong trường hợp này đến từ đáy xương sống và cổ họng, và phải được kèm theo bằng các linh từ thích hợp.
3. Trong công việc liên kết một người với chân nhân (ego) của y. Thần lực được dùng ở đây phải được tiếp nhận từ ba bí huyệt dĩ thái: bí huyệt đan điền, bí huyệt tim và bí huyệt giữa hai chân mày.
4. Trong công việc của nhóm. Ở đây năng lượng được sử dụng phát ra từ chân ngã, xuyên qua bí huyệt đầu, bí huyệt cổ họng và bí huyệt đáy xương sống.

Do đó, sẽ rõ ràng là Khoa Học về Bàn Tay là một Khoa Học rất thực tế,…

Về việc này cần phải ghi nhớ rằng đó là một vấn đề rất khó hiểu, và rằng một số thần lực cung (ray forces) đi theo đường lối ít đối kháng nhất từ trái sang phải, còn những thần lực cung khác thì đi từ phải sang trái. Một số bí huyệt truyền năng lượng của chúng xuyên qua bàn tay phải, và một số khác thì xuyên qua bàn tay trái. Do đó, cần có nhiều hiểu biết để hoạt động một cách khoa học.(LVHLT, 575)

Trong các sách huyền linh học và cũng trong bộ Giáo Lý Bí Nhiệm có nói rằng mọi điểm đạo đồ phải là những người chữa bệnh (healers); do đó, mà mọi điểm đạo đồ đều dùng lòng bàn tay trong công tác chữa bệnh. ……Điều này nên được cẩn thận ghi nhớ. Mãnh lực chữa trị thật sự chỉ có thể tuôn đổ qua những người vốn được liên kết với Thánh Đoàn, ở một trình độ nào đó, hoặc trực tiếp (bằng quyền của sự điểm đạo hoặc của bậc đệ tử tiến hóa) hoặc gián tiếp, khi được sử dụng ở khía cạnh nội môn bởi một vị cao đồ hoặc một nhà chữa trị tiến hóa nào đó. Một người nên biết tình trạng của y trước khi y có thể chữa trị một cách đúng đắn. Điều này không áp dụng với những người chữa trị nào vốn là các phụng-sự-viên vô thức, là những kẻ truyền chuyển mạnh mẽ prana, hoặc sinh lực thái dương (solar vitality). Tên của họ rất nhiều, và họ làm nhiều điều tốt lành mặc dù đôi khi năng lượng mà họ truyền chuyển dùng để kích thích một cách sai trái. LVHLT, 578)

+ Về việc dùng đôi bàn tay trong việc vặn các chìa khóa, Tôi sẽ chỉ đưa ra một gợi ý. Chỉ có những bàn tay nào có thể vặn chìa khóa trong cửa điểm đạo, vốn đã học được “kỹ xảo về các bí huyệt, ý nghĩa của những bàn tay trong việc phụng-sự, việc sử dụng thanh kiếm, và bốn địa vị mà trong đó bàn tay được giữ trong việc phụng-sự của tập thể.

A. Do đó, hãy nghiên cứu loại thần lực mà bạn thường vận dụng, biết nó đến theo đường lối của năng lượng cung (ray energy) nào, và nhờ đó đạt đến một sự hiểu biết đích thực hơn về chính bạn, và về các năng lực bên trong của bạn, và cũng xác định những loại năng lượng mà bạn có thể thiếu, và khí cụ của bạn có thể được hoàn thiện thích đáng như thế nào.

B. Tính chất của thần lực được sử dụng nhất thiết phải tùy thuộc vào cung mà từ đó nó có thể xuất phát. Bạn yêu cầu Tôi phân biệt giữa các từ ngữ loại (type) và tính chất (quality). Tôi xin đáp rằng:

– Loại của thần lực biểu thị khía cạnh sự sống, trong khi tính chất biểu thị khía cạnh tâm thức, và cả hai đều là những khía cạnh của thực thể (entity) hay bản thể (being), vốn là hiện thân của một cung năng lượng. Loại sẽ biểu lộ chủ yếu thông qua những gì chúng ta có thể gọi hướng năng động (dynamic direction), và nhờ sức mạnh của nó để tạo ra một hiệu quả (effect). Tất nhiên, điều này phải được kết hợp với tính chất đúng đắn và sự khéo léo trong hành động.

– Tính chất sẽ được biểu thị nhiều hơn bằng quyền năng của sự tiếp cận có tính thu hút của nó. Nó có trong nó nhiều trạng thái từ tính hơn là loại (type) đang có. Các đạo sinhthể đạt đến tính chất của thần lực mà họ có thể đang sử dụng bằng cách chú ý đến những gì mà họ thu hút đến với họ, cả trong những hoàn cảnh, trong con người, và trong các phản ứng mà con người tỏ lộ ra với những gì mà đạo sinh đó có thể nói hoặc làm.

Trong loại, có một sự trội hơn của trạng thái ý chí, còn trong tính chất, khía cạnh ham muốn chủ yếu được tìm thấy. Một điều hết sức đúng là tùy theo các ham muốn của một người, mà sẽ có các hình thức của sự sống mà y muốn, giống như một nam châm, hút vào chính y.

C. Sức mạnh của một thần lực đặc biệt đưa chúng ta trở lại với Qui Luật mà chúng ta đang nghiên cứu, vì nó bao hàm trong chính nó yếu tố của sự kiên trì đích thực, và chúng ta đã thấy trước đây rằng sự xuất hiện vào sự sống theo chức năng và sự hoạt động của bất kỳ hình hài nào đều phụ thuộc vào sự chú ý kiên trì của tác nhân sáng tạo của nó. Năng lượngthể được sử dụng một cách năng động hoặc một cách kiên trì, và các hiệu quả của hai cách áp dụng năng lượng này thì khác nhau. Phương pháp năng động được dùng chủ yếu trong công việc hủy diệt. Chẳng hạn có một số quyền-lực-từ năng động, khi được các Đấng Hủy Diệt Sáng Tạo vận dụng, sẽ mang lại sự phá hủy của các hình hài. Tuy nhiên, những người tìm đạo không có liên quan gì đến các quyền lực từ này. Công việc quan trọng của họ là tìm hiểu ý nghĩa của sự kiên trì và của sức mạnh. Đó thật ra là một sự kiên trì về thời gian, còn sức mạnh, vượt ngoài mọi thứ khác, là quyền năng chịu đựng, không nhượng bộ, đứng vững vàng, và tiến tới không nản lòng. Do đó, hãy nghiên cứu một cách cẩn thận các loại năng động, tính chất thu hút, và sức mạnh bền bỉ của các thần lực vốn cấu thành khí cụ của bạn. Khi bạn có thể sử dụng, hoặc theo cách hủy diệt hay theo cách xây dựng, hoặc ích kỷ hay vị tha, hoặc phù hợp với Cơ Tiến Hóa Vũ Trụ hay kế hoạch có tính ích kỷ và cá nhân, thì bấy giờ bạn sẽ làm việc một cách hữu thức và sẽ hữu ý bước vào chính đạo hoặc tà đạo.

D. Tốc độ của thần lực được sử dụng phụ thuộc vào ba yếu tố trước đó. Tốc độ theo ý nghĩa này không có mối quan hệ thiết yếu với thời gian, mặc dù thật khó để tìm một từ ngữ khác để sử dụng vào vị trí của từ tốc độ. Nó liên quan đến thế giới của các hiệu quả, vì chúng xuất phát từ thế giới của các nguyên nhân. ….Có lẽ tốc độ (speed) nên được dịch một cách chính xác hơn bằng các từ “đúng hướng” (“correct direction”), vì nơi nào có phương hướng đúng đắn, có sự định hướng chính xác, có sự hiểu biết xác thật về mục đích và có sự nhận biết về loại thần lực cần thiết, thì nơi đó có một hiệu quả tức thì. Khi linh hồn đã ghi nhận tính chất mong muốn và sở hữu sức mạnh của Đấng Vô Thủy Vô Chung (the Timeless One) và sự kiên trì của Đấng Duy Nhất vốn có từ lúc khởi thủy, thì tiến trình của sự biểu lộ thần lực và mối quan hệ giữa nhân với quả là tự phát và đồng thời, chứ không phải xảy ra tuần tự. … Nhưng Tôi không dám cung cấp nhiều hơn và Tôi cũng không được phép nói một cách rõ ràng hơn. Vài người thích hợp để trở thành nhà huyền linh học, và vài người (có lẽ là may mắn) cho đến nay có tất cả bảy bí huyệt được khơi hoạt vì thế họ có thể hoạt động tự do trên bảy cõi giới, và với bảy loại năng lượng của bảy cung.
Tôi muốn chỉ ra rằng bốn trạng thái năng lượng này có thể được người tìm đạo nghiên cứu theo bản chất riêng của y. …Chúng ta không cần môi trường cách biệt, hay lãnh địa đặc biệt nào để sống, học tập và làm việc trong đó, vì chúng ta cư trú trong một thế giới của lựcnăng lượng; chính chúng ta được cấu tạo từ các đơn vị lực hay năng lượng; và chúng ta vận dụng thần lực, một cách hữu ý hay vô tình, suốt hai mươi bốn giờ trong ngày. Môi trường cho sự huấn luyện huyền bí của chúng ta là môi trường thế gian, và thế giới của những hoàn cảnh đặc biệt và môi trường chung quanh của chúng ta.(LVHLT, 579)

VIỆC ĐẶT CHÂN LÊN THÁNH ĐẠO

Khi đã xem xét Quy Luật XIV, chúng ta đã thấy rằng, trong công tác huyền thuật, người tìm đạo hiện nay đã đạt đến điểm quan trọng của sự biểu lộ khách quan (objectivity). Y đang nỗ lực để trở thành một nhà sáng tạo về huyền thuật, và để hoàn thành hai điều:
1. Tái tạo lại khí cụ hoặc cơ cấu tiếp xúc của y, nhờ đó mà thái dương Thiên Thần có một hiện thể thích hợp cho sự biểu lộ của Thực Tại. Chúng ta đã nhận thấy rằng, điều này bao hàm loại, tính chất, sức mạnh và tốc độ thích hợp.
2. Kiến tạo các hình thức biểu lộ phụ ở thế giới bên ngoài mà qua đó Năng Lượng được nhân cách hóa, đang chảy qua các thể thấp (sheaths) đã được tái tạo, có thể phụng sự thế giới.
Trong trường hợp đầu tiên, người tìm đạo đang đối phó với chính y, làm việc trong chu vi của riêng y, và như thế đang học để tự biết y, để thay đổi bản thân y và để kiến tạo lại khía cạnh hình hài của y. Trong trường hợp kia, y đang học cách để trở thành một người phụng sự nhân loại, và xây dựng các hình thức biểu lộ, vốn sẽ hiện thân cho những ý tưởng mới, các nguyên lý mới xuất hiện, và các khái niệm mới, những điều này phải chi phối và làm hoàn thiện sự phát triển giống nòi của chúng ta. (LVHLT, 582)

Tôi muốn nêu ra hai vấn đề khác, và do đó làm sáng tỏ toàn bộ tình hình. Có nhiều sự lộn xộn trên chủ đề về các bí huyệt và nhiều giảng dạy sai lầm, dẫn đến nhiều sự lầm đường lạc lối và gây ra rất nhiều sự hiểu lầm.

Thứ nhất, Tôi muốn nói rằng người tìm đạo không bao giờ nên thực hiện công việc nào, như là việc nỗ lực để khơi hoạt các bí huyệt, trong khi y biết rõ những sự không trong sạch trong đời sống của y, hoặc khi thể xác ở trong tình trạng không tốt hoặc bị bệnh. Cũng không nên thực hiện việc đó khi áp lực của các hoàn cảnh bên ngoài cũng như thế đến nỗi không có chỗ nào, hoặc cơ hội nào cho công việc yên tĩnh và không bị gián đoạn. Điều thiết yếu là, đối với công việc trước mắt tập trung vào các bí huyệt, nên có khả năng có những giờ phút riêng tư và không bị gián đoạn. Tôi không thể nhấn mạnh quá rõ rệt vào việc này, và Tôi làm như vậy để giải thích cho đạo sinh đầy háo hức rằng, ở thời kỳ này trong lịch sử của chúng ta, có một số ít người mà đời sống của họ cho phép có sự ẩn dật này. Dù thế nào thì đây là một hoàn cảnh hữu ích nhất, và không một hoàn cảnh nào nên bị phàn nàn. Chỉ có một trong một ngàn người tìm đạo đang ở giai đoạn mà y nên bắt đầu làm việc với năng lượng tại các bí huyệt của y, và có lẽ thậm chí ước tính này là quá lạc quan. Tốt hơn cả là người tìm đạo phụng-sự, thương yêu, làm việc và tự giữ giới luật, để cho các bí huyệt của y phát triển và khai mở chậm rãi hơn, và do đó an toàn hơn. Chắc chắn chúng sẽ khai mở, và phương pháp khai mở chậm rãi hơn và an toàn hơn là phương pháp nhanh chóng hơn trong phần lớn các trường hợp. Việc khai mở sớm bao hàm việc mất nhiều thời gian, và thường mang theo nó các mầm mống của sự rắc rối kéo dài.

Việc kích thích quá mức các tế bào não là một trong những kết quả của việc hợp nhất, bởi một tác động của ý chí, các lửa đang luân lưu trong thể con người. Sự kích thích như thế có thể tạo ra sự mất trí và phá vỡ cấu trúc tế bào của não bộ, và xuyên qua sự hoạt động quá mức của đời sống tế bào, cũng có thể gây ra sự ma sát bên trong giữa chúng, vốn sẽ dẫn tới các khối u não và các ung nhọt (abscesses) trong não. Điều này không thể được lặp đi lặp lại quá rõ ràng.

Mục tiêu cơ bản trong mọi công việc của Laya yoga (hoặc công việc với các bí huyệt) ….(LVHLT, 590)

Mỗi bí huyệt trong cột sống được chia cách với bí huyệt bên trên và bí huyệt bên dưới nó bằng một lưới đan bảo vệ bao gồm một sự phối trộn kỳ lạ của chất dĩ thái và chất hơi. Lưới này phải bị cháy sạch và tiêu tan đi, trước khi có thể có sự tác động tự do của các lửa của thể xác.

Thực ra thì các lưới dĩ thái này là các đĩa, quay hoặc xoay vòng ở các tốc độ riêng khác nhau vì các bí huyệt khác nhau, và tùy theo mức độ tiến hóa của hệ thống các bí huyệt có liên quan (LVHLT, 592)

+ Số 8 với Thần lực Luân xa: Sự thật này được chứng minh một cách kỳ lạ trong một nghiên cứu về con số “tám” có liên quan đến các bí huyệt, mà chúng ta được dạy, vốn là con số của Christ.

– Có tám bí huyệt nếu tính luôn bí huyệt lá lách, tất cả chúng là các bội số của tám với sự ngoại trừ của bí huyệt ở đáy của cột sống vốn có bốn cánh hoa, là một nửa của tám. Vào thời của chúng ta và trong cách viết của người Anglo Saxon, số tám là biểu tượng cơ bản của tất cả các bí huyệt, vì các cánh hoa thực sự có hình dạng giống như một số các số tám chồng lên nhau. Từ ngữ cánh hoa hoàn toàn là tượng hình, còn một bí huyệt được hình thành dựa trên mô hình này. Đầu tiên, là một vòng tròn, O; sau đó là hai vòng tròn, chạm vào nhau và do đó tạo thành một số 8. Kế đó, khi các cánh hoa tăng số lượng, nó chỉ đơn giản là một sự tăng trưởng của các vòng tròn đôi này, được chồng lên ở các góc độ khác nhau, cái này trên cái kia, cho đến khi chúng ta đạt đến hoa sen ngàn cánh ở đầu.

Suy cho cùng, các bí huyệt này có hai chức năng. Chúng thể hiện khía cạnh kiến tạo hình hài của thiên tính, và qua hoạt động của chúng đưa hình hài bên ngoài vào biểu lộ; để rồi vào cuối chu kỳ tiến hóa – cả trong đại thiên địatiểu thiên địa – chúng đưa vào sự biểu lộ mãnh lực và sự sống của linh hồn và tạo ra sự lâm phàm của một đứa con của Thượng Đế được khải thị đầy đủ, với mọi quyền năngtri thứcthiên tính chứa đựng. (LVHLT, 597)

QUI LUẬT MƯỜI LĂM

Các luồng hỏa đến gần cái bóng, nhưng không thiêu đốt nó. Vỏ lửa được hoàn tất.
Nhà huyền thuật hãy ngân lên các từ vốn pha trộn lửanước.

Ý Nghĩa Huyền Bí.
Sự Phủ Định Đại Hão Huyền.
Một Lời Kêu Gọi Phụng Sự.
Các Nhóm và Việc Huấn Luyện trong Kỷ Nguyên mới.

QUI LUẬT MƯỜI LĂM
Ý NGHĨA HUYỀN BÍ

Bạn yêu cầu Tôi định nghĩa rõ hơn Tôi ám chỉ điều gì với các từ “ý nghĩa bí truyền (“esoteric sense”). Về cơ bản Tôi muốn nói đến năng lực sống và hoạt động về mặt nội tâm (subjectively), có một sự tiếp xúc bên trong thường xuyên với linh hồn và thế giới mà nó ở trong đó, và điều này phải thể hiện một cách chủ quan nhờ lòng bác ái được bày tỏ một cách tích cực; nhờ minh-triết được tuôn ra đều đặn; và nhờ năng lực bao gồm và đồng nhất hóa chính mình với tất cả những gì sống (breathes) và có cảm giác (feels) vốn là tính chất nổi bật của tất cả các con của Thượng Đế đang hoạt động thật sự. Do đó Tôi muốn nói đến một thái độ được chứa đựng bên trong thể trí, nó có thể tự định hướng tùy ý theo bất kỳ hướng nào.

Nó có thể chi phối và kiểm soát tính nhạy cảm về tình cảm, không chỉ của chính vị đệ-tử, mà còn của tất cả những người mà y có thể tiếp xúc. Bằng sức mạnh của tư tưởng tĩnh lặng của y, y có thể mang ánh sáng và an bình đến cho mọi người. Nhờ quyền năng trí tuệ đó, y có thể nắm bắt được tư tưởng thế gian, và trên lĩnh vực của các ý tưởng, có thể phân biệt và lựa chọn giữa các tác nhân trí tuệ và các khái niệm vốn sẽ cho phép y, với tư cách một người hoạt động theo thiên cơ, ảnh hưởng đến môi trường chung quanh của y và bao bọc những lý tưởng mới trong chất liệu tư tưởng, vốn sẽ làm cho chúng được nhận biết dễ dàng hơn trong thế giới tư tưởng và sinh hoạt thông thường hằng ngày. Thái độ tâm trí này sẽ giúp cho vị đệ-tử cũng tự định hướng vào thế giới của linh hồn, và ở vị trí cao của sự linh hứng và của ánh sáng, phát hiện ra các phụng-sự-viên thân hữu của y, giao tiếp với họ và – trong sự hiệp nhất với họ − cộng tác nhau trong việc thể hiện các mục đích thiêng liêng.

Ý nghĩa huyền bí này là nhu cầu chính của người tìm đạo vào lúc này trong lịch sử thế giới. Cho đến khi nào những người tìm đạo đã phần nào hiểu được điều đó và có thể sử dụng nó, bằng không thì họ không bao giờ có thể hợp thành một phần của Đoàn Người Mới; họ không bao giờ có thể hoạt động như các nhà huyền linh thuật, và các Giáo Huấn này đối với họ sẽ vẫn là lý thuyết và phần lớn có tính trí tuệ, thay vì là thực tế và có hiệu quả.(LVHLT, 604)

Giáo Lý Bí Nhiệm nói đến ba loại lửa, và các lửa này có cách dùng xưa cũ. Kinh Vishnu Purana gán cho các lửa này đúng cùng tên gọi như H.P.B., tức là bà đã mượn các thuật ngữ từ Kinh Thánh cổ xưa. Lửa Điện, Lửa Thái DươngLửa do Ma Sát, khi được kết hợp lại, sẽ tạo ra đại-thiên-địa và tiểu-thiên-địa biểu lộ, và bộ sách trước đây của Tôi, Luận Về Lửa Càn Khôn, đã đề cập tới sự kết hợp này.(LVHLT, 611)

SỰ PHỦ NHẬN ĐẠI HÃO HUYỀN

Cụm từ trong Qui tắc XV có nói “vốn pha trộn lửanước, có ý nói đến hiệu quả được tạo ra ở điểm ngưng tụ, sau khi các linh từ vĩ đại mang đến hiệu quả đó đã được xướng lên. Quy tắc này hầu như không thể giải thích và Tôi không được phép cung cấp cho bạn các linh từ đem lại tiến trình này. Chỉ có một số gợi ý có thể được đưa ra vốn sẽ dùng để khuyến khích người tìm đạo chân chính suy gẫm, và, than ôi, chúng có thể chỉ kích thích kẻ suy tư nông cạn vốn tìm kiếm các phương pháp và các công thức dễ dàng và nhanh chóng để làm việc qua đó. Hơi nóng và hơi ẩm có mặt trong việc tạo ra mọi hình thức của sự sống, nhưng bí nhiệm quan trọng (và gần như là bí nhiệm cuối cùng cần được giải thích cho vị adept) là làm thế nào mà sự phối hợp ba loại lửa lại có thể tạo ra hơi ẩm hay nguyên tố nước. Vấn đề này và hiện tượng này cấu thành cơ sở của Đại Hão Huyền (Great Illusion) mà các cổ thư có nói tới; qua tác dụng của sự kết hợp này mà ảo giác (maya) che phủ được tạo ra. Thật ra thì không có những sự vật như là nước (water); khối cầu nước, hay cõi cảm dục, bạn chỉ có thể nhận thức điều đó, vốn là một hiệu ứng hư ảo và không có sự tồn tại thực sự. Tuy nhiên – trong thời giankhông gian, và đối với sự hiểu biết của ý thức đối chứng – nó lại có thực hơn là những gì mà nó che giấu. Tôi không thể dùng lời lẽ để làm cho nó rõ ràng hơn được. Chỉ có thể gợi ý cho đạo sinh thông minh rằng ánh sáng của linh hồn y (được phản chiếu trong trí của y) và năng lượng của hình hài (như được biểu lộ trong thể dĩ thái của y) đối với y, trong lĩnh vực nhị nguyên tạm thời này, là hai thực tại cơ bản của y. Bản chất nước của kinh nghiệm cảm dục của y, mà trong đó hai khía cạnh này của thiên tính dường như (lại là ảo giác, hãy lưu ý nó) gặp gỡ và tác động, chỉ là một hiện tượng hấp dẫn, và, theo một ý nghĩa huyền bí, không dựa trên thực tế. Bất kỳ người tìm đạo chân chính nào cũng biết rằng tiến bộ tâm linh của y có thể được đánh giá về sự giải thoát của y ra khỏi ảo tưởng này và về việc giải phóng y vào bầu khí trong suốt và ánh sáng tinh khiết của tâm thức thiêng liêng của y. Trong ý thức của nó, giới động vật hoạt động với cái thứ hai của hai thực tại cơ bản này, và đối với nó thì sự sống của thể dĩ tháimãnh lực chi phối bản chất động vật hoặc bản chất vật chất là sự biểu lộ quan trọng nhất của chân lý. Tuy nhiên, động vật đang bắt đầu cảm nhận một cách lờ mờ thế giới ảo tưởng và sở hữu một số quyền nănggiác quan thông linh vốn nhận ra, nhưng không hiểu được cõi cảm dục. Bức màn ảo giác bắt đầu rớt xuống trước đôi mắt của động vật nhưng nó không biết điều đó. Con người đã đi lang thang qua nhiều kỷ nguyên trong thế giới ảo tưởng, vì thế giới đó có sự sáng tạo riêng của y. Tuy nhiên, con người, đến lượt y, theo quan điểm của ý thức, có sự tiếp xúc với cả hai thực tại và dần dần học cách xua tan ảo tưởng bằng sự tăng trưởng đều đặn của ánh sáng rực rỡ của linh hồn. Tôi xin phép tạm dừng ở đây để nhắc bạn rằng nhị nguyên chỉ là một giai đoạn trên vòng cung tiến hóa, cuối cùng dẫn đến việc nhận thức về nhất nguyên (unity).
Bức màn ảo tưởng giống như thời điểm trước bình minh, khi thế giới của các sự vật quen thuộc được nhìn thấy qua sương mù, và các dải sương mù đang che giấu các hình dạng thế giới và cũng che giấu mặt trời đang lên. Lúc bấy giờ chúng ta có thời gian giữa chừng, thời kỳ bí ẩn và mơ hồ khi cái chân bị che giấu bởi cái giả; rồi thì chúng ta có tình trạng kỳ lạ và bị biến dạng khi các hình tướng không được nhìn thấy đúng y như chúng, mà chúng mất đi hình dạng, màu sắc và hình phối cảnh của chúng. Cái thấy thực sự lúc đó không thể có được. Giai đoạn ở cõi cảm dục (astral stage) và chu kỳ thời gian rộng lớn mà trong đó đại hão huyền có ảnh hưởng mạnh do đó có thể được thấy rằng, từ cách tiếp cận tượng trưng nói trên, chỉ là tạm thời và thoáng qua. Đó không phải là giai đoạn của một sự biểu lộ thiêng liêng nhất định; đó không phải là giai đoạn nhận thức trong sáng rõ ràng; đó không phải là giai đoạn của công trình hoàn thiện. Đó là khoảng thời gian mà trong đó các vị Bán Thần (half-Gods) xuất hiện; đó là thời gian mà trong đó chân lý chỉ được cảm nhận lờ mờ, thị kiến chỉ thỉnh thoảng được thấy một cách mơ hồ; đó là giai đoạn của sự nhận thức Thiên Cơ còn yếu kém, và khi con người làm việc dựa trên kiến thức không hoàn chỉnh thì sự khó khăn và các lỗi lầm chắc chắn xảy ra. Đó cũng là giai đoạn của sự lệch lạc và sự biến động thường xuyên: trong khi rõ ràng là chúng ta có vẻ như không ngừng bị lôi kéo đi đây đi đó bởi các mãnh lực, làm việc một cách mù quáng và dường như không có mục đích. Trong chừng mực mà nhân loại có liên quan, đó là thời gian mà trong đó con người bị bao bọc trong màn sương mù, và bị lạc lối trong chướng khí phát ra từ mặt đất (biểu tượng của bản chất căn bản của giới động vật). Tuy nhiên, đôi khi giai đoạn này được thấy là không có thực khi ánh sáng đang lóe lên của tâm thức thiêng liêng đi xuyên qua bóng tối đang bao quanh. Đây là thời gian chuyển tiếp giữa sự thống trị của tâm thức động vật và sự thống trị của tâm thức tinh thần, và giai đoạn chuyển tiếp này của ảo tưởng cõi cảm dục chỉ được biết đến trong gia đình nhân loại. Không có cõi cảm dục nào, ngoại trừ trong tâm thức của giới thứ tư trong thiên nhiên,con người ở “dưới ảnh hưởng của ảo tưởng” theo một ý nghĩa khác với sự nhận thức hữu thức của bất kỳ giới nào khác – giới dưới nhân loại hoặc giới siêu nhân. (LVHLT, 612)

LỜI KÊU GỌI PHỤNG SỰ (LVHLT, 618)

Để kết thúc bộ luận về công tác huyền thuật này của người tìm đạobiệt, Tôi tìm cách thực hiện hai việc:
1. Chỉ ra mục tiêu trước mắt cho các đạo sinh trong thế kỷ này, và tóm tắt các bước thời gian mà họ phải đi.
2. Chỉ ra những điều phải được loại bỏ và phải được khắc phục, và những hình phạt xảy đến với đệ-tử dự bị và đệ-tử khi phạm các sai lầm và được tha thứ tội lỗi.

Trước hết, mục tiêu trước mắt phải được nhận thức rõ ràng, nếu nỗ lực mất đi là để ngăn ngừa và sự tiến bộ thực sự được đạt tới. Nhiều người tìm đạo đầy thiện chí, có khuynh hướng dành thời gian quá mức cho các đạo tâm được bảo đảm của họ, và cho việc trình bày chi tiết các kế hoạch phụng-sự của họ. Đạo tâm của thế gian hiện nay đang rất mạnh mẽ và nhân loại hiện nay đang tự định hướng rất mãnh liệt vào Thánh Đạo, đến nỗi những người nhạy cảm ở khắp mọi nơi đang bị cuốn vào vòng xoáy của ước muốn tâm linh, và nhiệt thành mong đợi cuộc đời giải thoát, có các công việc tâm linh và có linh hồn thức được ghi nhận…..(LVHLT, 618)

Do đó, các đạo sinh nên suy ngẫm về những lời này, vì chúng sẽ được nhận thấy là trở nên ngày càng quan trọng trong năm mươi năm tới đây. Thời gian này là đủ lâu đối với môn sinh bậc trung để xem xét và hoạch định; và trong sự nhận thức của họ về giai đoạn này của việc thể hiện Thiên Ý (divine Purpose), họ cần khôn ngoan khi nghiên cứu sự thể hiện cuộc sống cá nhân của họ và đặt ra những câu hỏi sau đây cho chính mình:

1. Có phải họ đang phí thời gian vào những giấc mơ huyền bí, hay có phải là họ bận rộn trong việc áp dụng vào thực tế các chân lý tinh thần được cảm nhận, do đó làm cho chúng thành một phần của kinh nghiệm hằng ngày của họ hay không?
2. Liệu họ có nhận thấy rằng phản ứng của họ với sự mất cá tính (impersonality) ngày càng tăng của thời đại là phản ứng bực tức (resentment), hay liệu họ có nhận thấy rằng thái độ tương đối mới này của sự dứt bỏnhân đang có xu hướng giải quyết những vấn đề cá nhân riêng của họ hay không?
3. Liệu họ có thể ghi nhận một khả năng ngày càng tăng để cảm nhận các suy tư và ý tưởng của những người khác, và liệu họ có nhận thấy rằng họ đang trở nên nhạy cảm hơn và do đó có nhiều khả năng hơn để lao vào cơn thủy triều lớn của sự liên giao chăng?
4. Có bao nhiêu khả năng của sự kịch tính hóa chi phối cuộc sống hằng ngày của họ? Có phải họ nhận thấy rằng họ là trung tâm của cái vũ trụ đang tự động xoay xung quanh họ, hoặc có phải họ đang đối phó với vấn đề phá ngã chấp và hòa nhập vào trong tổng thể hay chăng?
Các câu hỏi này và những câu hỏi khác sẽ phát sinh có thể dùng để chỉ ra sự đáp ứng của người tìm đạo đối với việc tiến vào kỷ nguyên mới. (LVHLT, 620)

Đối với người đệ tử        (LVHLT, 623):

Nhưng nếu tính vô ngã thực sự được trau dồi, nếu năng lực để đứng vững vàng được phát triển, nếu mọi tình huống được giải quyết trong một tinh thần bác ái, và nếu có một sự từ chối có hành động hấp tấp và không cho phép sự chia rẽ luồn lọt vào, lúc đó sẽ có sự tăng trưởng của một nhóm các nhà phụng sự đích thực, và việc tập hợp lại những người có thể hiện thức hóa thiên cơ và khai sinh ra kỷ nguyên mới cùng các điều kỳ diệu kèm theo của nó.

Để làm điều này, phải có lòng can đảm thuộc loại hiếm có nhất. Sự sợ hãi nắm giữ thế giới trong cảnh nô lệ, và không ai được miễn trừ ảnh hưởng của nó. Đối với người tìm đạo và đối với vị đệ-tử, có hai loại sợ hãi cần được đặc biệt xem xét. Những sự sợ hãi mà chúng ta đã bàn đến trong phần trước của bộ luận này, và các nỗi sợ cố hữu, như bạn biết, trong chính cuộc sống, đều quen thuộc với tất cả chúng ta. Chúng có gốc rễ của chúng trong tính chất bản năng (các lo ngại về kinh tế, các lo ngại phát sinh từ đời sống tính dục, lo sợ và khiếp hãi thuộc về thể chất, sợ cái không biết, với sự sợ hãi nổi bật nhất về cái chết đang nhuộm màu rất nhiều cuộc sống) và đã là chủ đề của nhiều nghiên cứu về tâm lý học.

Chúng sẽ bị khắc phục bằng sự sống của linh hồn khi linh hồn thấm nhập và biến đổi cuộc sống hằng ngày, và bằng việc người tìm đạo không chấp nhận bất cứ nhận thức nào của chúng. Phương pháp thứ nhất xây dựng hướng tới sức mạnh tương lai của tính cách, và ngăn ngừa sự xuất hiện của bất kỳ nỗi sợ hãi mới nào. Chúng không thể tồn tại khi linh hồn kiểm soát cuộc sống và các hoàn cảnh của mình một cách có ý thức. Phương pháp thứ hai là vô hiệu hóa các hình-tư-tưởng cũ, và cuối cùng mang lại sự hủy diệt của chúng do thiếu chất dinh dưỡng.

Như bạn biết, các nhà tâm lý học liệt kê năm bản năng chính vượt trội, và chúng ta sẽ đề cập đến chúng một cách rất vắn tắt.

* CÁC HOẠT ĐỘNG BẢN NĂNG CỦA CON NGƯỜI (LVHLT, 625)

– Để làm điều này (Các nhược điểm của môn sinh trên đường đạo), cần phải có lòng can đảm thuộc loại hiếm có nhất. Sự sợ hãi nắm giữ thế giới trong cảnh nô lệ, và không ai được miễn trừ ảnh hưởng của nó. Đối với người tìm đạo và đối với vị đệ-tử, có 2 loại sợ hãi cần được đặc biệt xem xét. Những sự sợ hãi mà chúng ta đã bàn đến trong phần trước của bộ luận này (LVHLT), và các nỗi sợ cố hữu, như bạn biết, trong chính cuộc sống, đều quen thuộc với tất cả chúng ta. Chúng có gốc rễ của chúng trong tính chất bản năng (các lo ngại về kinh tế, các lo ngại phát sinh từ đời sống tính dục, lo sợ và khiếp hãi thuộc về thể chất, sợ cái không biết, với sự sợ hãi nổi bật nhất về cái chết đang nhuộm màu rất nhiều cuộc sống) và đã là chủ đề của nhiều nghiên cứu về tâm lý học ……

Chúng sẽ bị khắc phục bằng sự sống của linh hồn khi linh hồn thấm nhập và biến đổi cuộc sống hằng ngày, và bằng việc người tìm đạo không chấp nhận bất cứ nhận thức nào của chúng.

a. Phương pháp thứ nhất: xây dựng hướng tới sức mạnh tương lai của tính cách, và ngăn ngừa sự xuất hiện của bất kỳ nỗi sợ hãi mới nào. Chúng không thể tồn tại khi linh hồn kiểm soát cuộc sống và các hoàn cảnh của mình một cách có ý thức.

b- Phương pháp thứ hai là vô hiệu hóa các hình-tư-tưởng cũ, và cuối cùng mang lại sự hủy diệt của chúng do thiếu chất dinh dưỡng.

* Bạn cần chinh phục các bản năngNhư bạn biết, các nhà tâm lý học liệt kê năm bản năng chính vượt trội, và chúng ta sẽ đề cập đến chúng một cách rất vắn tắt.
1. Bản năng tự bảo toàn (instinct of self – preservation) có nguồn gốc của nó trong nỗi sợ hãi bẩm sinh về cái chết; do có sự sợ hãi này mà nhân loại đã chiến đấu theo cách của nó đến mức hiện tại của nó về tuổi thọ và sức chịu đựng. Các ngành khoa học bận tâm đến việc bảo toàn sự sống, kiến thức y học hiện đại, và những thành tựu của sự tiện nghi văn minh, tất cả đã phát triển từ nỗi sợ hãi cơ bản này. Tất cả đã hướng tới sự tiếp tục tồn tại của cá nhân, và hướng đến điều kiện duy trì sự tồn tại (being) của y. Nhân loại tiếp tục tồn tại, với tư cách một giống loài và một giới trong thiên nhiên, là một kết quả của xu hướng sợ hãi này, phản ứng có tính bản năng này của đơn vị nhân loại đưa đến sự tự tồn mãi mãi (selfperpetuation).
2. Bản năng giới tính (instinct of sex), có gốc rễ chính của nó trong sự sợ hãi về sự tách biệt và sự cô lập, và trong một sự nổi dậy chống lại tính đơn nhất chia rẽ trên cõi trần, chống lại sự cô độc (aloneness); và nó đã dẫn đến việc tiến tới trước của nhân loại và sự tiếp tục tồn tại và sự nhân giống của các hình hài mà nhờ đó nhân loại có thể đi vào sự biểu lộ.
3. Bản năng sống bầy đàn (herd instinct) có thể dễ dàng được thấy là có gốc rễ của nó trong một phản ứng tương tự; vì cảm giác an toàn và vì sự an ninh được bảo đảm và được tin chắc – dựa trên những tập hợp về số lượng – con người đã luôn luôn tìm đến loại riêng của họ và sống thành bầy nhóm với nhau để phòng vệ, và để ổn định kinh tế. Nền văn minh hiện đại của chúng ta là kết quả từ phản ứng do bản năng này của nhân loại nói chung; các trung tâm rộng lớn của nó, các thành phố khổng lồ và các khu chung cư tập trung của nó đã xuất hiện, và chúng ta có việc sống theo bầy đàn hiện đại, được đưa đến bậc thứ n (nth degree).
4. Bản năng lớn thứ tư, là bản năng tự khẳng định (selfassertion), cũng dựa trên sự sợ hãi; nó bao hàm sự sợ hãi của cá nhân rằng y sẽ không nhận thức được và như thế mất đi nhiều thứ mà nếu không thì sẽ thuộc về y. Theo thời gian qua, sự ích kỷ của nhân loại đã phát triển như thế đó; ý thức về tính hám lợi của nhân loại đã phát triển và năng lực nắm lấy cơ hội đã xuất hiện (“ý muốn quyền lực” dưới hình thức này hoặc hình thức khác), đến ngày hôm nay chúng ta có chủ nghĩa cá nhân mạnh mẽ, và ý thức tích cực về tầm quan trọng vốn đã tạo ra nhiều sự rắc rối về kinh tế và quốc gia thời hiện đại. Chúng ta đã vun trồng tính tự quyết, tính tự khẳng định và tính tư lợi, cho đến khi chúng ta bị gặp phải một khó khăn hầu như không thể vượt qua. Nhưng ngoài mọi điều đó, nhiều điều tốt lành đã đến và sẽ đến, vì không có cá nhân nào có giá trị cho đến khi y nhận thức giá trị đó cho chính y, và lúc bấy giờ, một cách dứt khoát, y hy sinh các giá trị đã hoạch đắc cho lợi ích của tổng thể.
5. Đến lượt bản năng tìm hiểu (instinct to enquire) được dựa trên sự sợ hãi cái không biết, nhưng ngoài sự lo sợ này, đã xuất hiện – như là kết quả của cuộc tìm hiểu lâu đời – những hệ thống giáo dụcvăn hóa và toàn bộ cấu trúc về nghiên cứu khoa học của chúng ta hiện nay.
Những xu hướng, dựa trên sự sợ hãi (vì con người vốn thiêng liêng) đã tác động như một sự kích thích phi thường của toàn bộ bản chất của con người, và đã đưa y tiến tới đến trình độ hiểu biết và hữu dụng rộng rãi hiện tại của y, chúng đã tạo ra nền văn minh hiện đại của chúng ta với mọi khuyết điểm của nó, và tuy thế, với mọi thiên tính được biểu thị của nó. Từ những bản năng này được đưa tới vô cùng tận, và từ tiến trình chuyển hóa của chúng thành các tương ứng cao hơn của chúng, Sự nở hoa trọn vẹn của sự biểu lộ của linh hồn sẽ xuất hiện. Tôi muốn nêu ra những điều sau đây:
Bản năng tự bảo toàn tìm được tuyệt đỉnh của nó trong tính chất bất tử chắc chắn, và về việc này, công việc mà các nhà duy linh (spiritualists) và các nhà sưu khảo tâm linh đảm trách theo các thời đại là phương pháp tiếp cận và sự đảm bảo chắc chắn.
Bản năng phái tính đã thể hiện và tìm thấy tuyệt đỉnh hợp lý của nó trong mối quan hệ − được nhận thức một cách hữu thức – của linh hồnthể xác. Đây là ý chủ đạo (keynote) của chủ nghĩa thần bí và tôn giáo, mà ngày nay, cũng như luôn luôn, là sự biểu lộ của Luật Thu Hút (Law of Attraction), không phải khi nó tự thể hiện qua hôn nhâncõi trần, mà khi nó tìm thấy tuyệt đỉnh của nó (đối với con người) trong cuộc hôn nhân siêu phàm được tiến hành với mục đích hữu thức giữa linh hồn dương với sắc tướng âm và có tính tiếp thu.
Bản năng sống bầy đàn tìm thấy tuyệt đỉnh thiêng liêng của nó trong một ý thức tập thể được khơi hoạt, ngày nay điều đó được chứng tỏ trong xu hướng chung hướng tới những sự pha trộn (amalgamations), và sự dung hợp và trộn lẫn rộng rãi vốn đang diễn ra ở khắp mọi nơi. Nó thể hiện trong khả năng suy tư dưới dạng chủ nghĩa quốc tế, các quan niệm phổ biến, mà cuối cùng sẽ dẫn đến việc thiết lập tình huynh đệ đại đồng.
Bản năng tự khẳng định, đến lượt nó, đã cung cấp cho nền văn minh hiện đại của chúng ta chủ nghĩa cá nhân mạnh mẽ của nó, sự sùng bái thần tượng, và tạo ra sự thờ cúng tổ tiên và tôn sùng anh hùng. Tuy thế, nó đang dẫn tới sự khẳng định về Bản Ngã (Self), về Chủ Thể Cai Trị thiêng liêng ở nội tâm, và từ khoa tâm lý học mới mẻ nhất của chúng ta, sẽ xuất hiện một kiến thức về Chân Ngã (spiritual Self) tự tin và chi phối, và cuối cùng dẫn đến sự biểu lộ của giới linh hồn trên trần thế.
    Và điều gì về bản năng cần tìm hiểu? Được chuyển hóa thành sự nghiên cứu thiêng liêng và được biến đổi bởi việc áp dụng ánh sáng linh hồn trong lĩnh vực điều nghiên, chúng ta sẽ có nhân loại được tiến vào Phòng Minh Triết, và như thế con người sẽ bỏ lại sau những kinh nghiệm của Phòng Kiến Thức. Các trung tâm giáo dục lớn của chúng ta sẽ trở thành các trường học cho sự phát triển nhận thức trực giác và hiểu biết tâm linh. (LVHLT, 629)

+ Đạo sinh cần nghiên cứu kỹ lưỡng bảng sau đây(LVHLT, 629):

    Bản năng Sự tương ứngPhương cách
1. Tự bảo tồn Tính bất tửDuy linh. Tìm tòi.
2. Giới tính Hợp nhất tinh thần Tôn giáo
Sự nhất quán
Thuyết thần bí.
3. Sống bầy đàn Tập thể thứcTình huynh đệ.
4. Tự khẳng định Sự khẳng định Bản NgãTâm lý học.
5. Điều nghiên Trực giácGiáo dục.

===> Như vậy những nỗi sợ hãi đang bao vây nhân loại, có nguồn gốc của chúng trong những bản năng.

CÁC NHÓM VÀ VIỆC HUẤN LUYỆN TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Đối với những người trong chúng ta đang làm việc ở khía cạnh nội môn, các phụng-sự-viên trên thế giới thuộc vào ba nhóm:

1. Những người, ít và thưa thớt, vốn là những người Bảo Bình đích thực. Những người này làm việc dưới những khó khăn thực sự, vì tầm nhìn của họ vượt khỏi sự hiểu biết của đa số người, và họ thường gặp sự thiếu cảm thông, sự thất vọng thường xuyên với các phụng-sự-viên huynh đệ của họ, và nhiều cô đơn.

2. Những người Song Ngư bình thường. Những người này làm việc với sự dễ dàng hơn nhiều và tìm thấy sự đáp ứng nhanh hơn từ những người xung quanh họ. Công việc của họ có tính giáo điều hơn, ít có tính bao dung và bị nhuốm màu của tinh thần chia rẽ. Họ bao gồm số đông người phụng sự trên thế giới trong tất cả các bộ môn khác nhau của tư tưởng và phúc lợi của con người.

3. Những người thuộc Song Ngư được phát triển đủ để đáp ứng với thông điệp của kỷ nguyên Bảo Bình, nhưng cho đến nay – họ không thể tự tin để sử dụng các phương pháp Bảo Bình thực sự về công việc và thông điệp.

Ví dụ, trong lĩnh vực chính trị, họ có ý thức về chủ nghĩa quốc tế (internationalism), nhưng họ không thể áp dụng nó khi nó đi vào sự hiểu biết của những người khác. Họ nghĩ rằng họ có một tâm thức đại đồng, nhưng khi nó đi vào một thử nghiệm, họ lại phân biệt đối xử và loại bỏ. Họ cấu thành một nhóm nhỏ hơn nhiều so với những người Song Ngư thực sự, và đang thực hiện công việc tốt đẹp và đang lấp đầy một nơi được cần nhiều. Tuy nhiên, vấn đề mà họ đưa ra cho người phụng sự thuộc Bảo Bình nằm ở sự kiện là mặc dù họ đáp ứng với lý tưởng và tự coi mình như thuộc kỷ nguyên mới, họ lại không thực sự là như vậy. Họ nhìn thấy chút ít viễn kiến và đã nắm được lý thuyết nhưng không thể biểu lộ nó thành hành động.

Có ba điểm nguy hiểm chính trong đời sống phụng sựthể được vạch ra.(LVHLT, 636)

Ở đây, Tôi không bàn đến việc huấn luyện cá nhân của vị đệ-tử, mà bàn đến đời sống phụng sự của y, và đến các hoạt động mà y đang tham gia với tư cách một phụng-sự-viên. Tính khí của y, tức năng lực của các đặc điểm (về thể chất, về tình cảm và về trí tuệ) nhất định có một ảnh hưởng mạnh vào môi trường chung quanh của y và vào những người mà y tìm cách giúp đỡ, và ngoài ra là hoàn cảnh gia đình của y, quá trình đào tạo ở cõi trần của y và cách nói năng của y.

Điểm nguy hiểm đầu tiên là tình trạng thể chất của y. Về điều này Tôi không thể bàn luận sâu ngoại trừ việc xin tất cả các đệ-tử hãy hành động một cách sáng suốt để cung cấp cho họ giấc ngủ đầy đủ, thức ăn thích hợp (vốn phải thay đổi tùy mỗi cá nhân), và môi trường xung quanh nào, nếu có thể, vốn sẽ giúp cho họ làm việc với sự thuận lợi tối đa. Sự trả giá đối với việc vi phạm các gợi ý này thể hiện ra trong việc thiếu năng lực phụng sự và trong tình trạng lệ thuộc (thralldom) ngày càng tăng của thể xác. Nơi nào mà thể xác ở trong tình trạng yếu kém, thì người đệ-tử phải thêm các trách nhiệm gắn liền với việc đưa vào của mãnh lực mà y nhận thấy rằng chính y không thể xử lý.

Điểm nguy hiểm thứ hai nằm trong ảo tưởng cảm dục mà tất cả nhân loại đều sống trong đó, và năng lực quyến rũ của nó ngay cả với người phụng sự dày dặn kinh nghiệm. Tôi đã xem xét điều này rất chi tiết trong bộ luận này, mà, như bạn biết, vốn là một bộ luận về sự kiểm soát thể cảm dục và là một sự hiểu biết chính xác các định luật của nó. Chỉ việc kiểm soát trí tuệ, cộng với nhận thức tâm linh đích thực, sẽ đủ để xuyên thấu chướng khí cảm dục hão huyền này, và mặc khải cho con người rằng y là một thực thể tâm linh đang hóa thân và đang tiếp xúc – qua thể trí của y – với Thiên Trí (Universal Mind). Hình phạt giáng xuống vị đệ-tử, kẻ luôn luôn tự cho phép mình bị mê hoặc, là hiển nhiên. Tầm nhìn của y trở nên bị che mờ và mơ hồ, và y “mất ý thức tiếp xúc” như nó được gọi trong các cổ luận. Y lang thang “xuống các ngõ ngách của kiếp sống và bỏ lỡ con đường chính thẳng tắp vốn sẽ dẫn y tới mục tiêu của y”.

Nguy hiểm thứ ba (và là nguy hiểm rất phổ biến vào lúc này) là nguy hiểm của tính tự cao về trí tuệ và việc thiếu khả năng tương ứng để làm việc trong việc hình thành nhóm. Hình phạt cho điều này thường thường là một sự thành công tạm thời và một hoạt động bị ép buộc với một nhóm, mà các yếu tố tốt nhất của nó đã bị suy nhược, và vốn chỉ có trong nó những người nuôi dưỡng phàm ngã của người đứng đầu nhóm. Vì chú trọng vào các ý tưởng riêng của y và các phương pháp làm việc riêng của y, một vị đệ-tử nhận thấy rằng nhóm của y thiếu những yếu tố và những người vốn sẽ bổ sung nó cho đầy đủ, vốn sẽ cân bằng nỗ lực của y, và cung cấp cho công cuộc của y những tính chất mà chính y thiếu. Trong bản thân sự việc thì đây là một sự trừng phạt đầy đủ, và nhanh chóng mang vị đệ-tử chân thật tới những cảm giác của y. Hãy để cho một vị đệ-tử vốn thông minh, chân thực và về cơ bản là chân thành, phạm lỗi như thế, và y sẽ kịp thời thức tỉnh trước sự thực là nhóm mà y đã tập hợp xung quanh y được y uốn nắn, hoặc là họ uốn nắn y; họ thường là những hiện thân của chính y và lặp lại y. Định luật tác động nhanh chóng trong trường hợp của một đệ-tử, và nhờ thế những sự điều chỉnh nhanh chóng được thực hiện.

Tôi muốn chỉ ra với đạo sinh rằng, khi đã vững vàng tiến tới, y sẽ khám phá ra rằng các liên kết ngoại mônnội môn của các trường bên ngoài và trường bên trong, hoặc hàng ngũ các thức giả của chân lý có liên hệ mật thiết đến nỗi không có một đạo sinh sốt sắng nào ở vào tình trạng hoàn toàn không được nhận ra. (LVHLT, 636)

Mong rằng mỗi người trong các bạn có thể làm việc như thế, và mong rằng mỗi người trong các bạn có thể không còn nhìn thấy bản ngã trong việc nhận thức nhu cầu trên thế giới, là lời cầu nguyện chân thành và khát vọng sâu xa nhất của huynh đệ bạn, Chân Sư Tây Tạng.

VẠN VẬT THÁI HÒA