Sách Luận Về Chánh Thuật


Chia sẻ:

 

TỔNG HỢP TÓM LƯỢC SÁCH
LUẬN VỀ HUYỀN LINH THUẬT/ CHÁNH THUẬT

A- TỪ KHÓA CHÍNH CỦA SÁCH (CẦN XEM THÊM SÁCH LVLCK – TTHM – CTHNM)

THỂ VÀ CÁC TƯƠNG ỨNG GIỮA ĐẠI THIÊN ĐỊA VỚI TIỂU THIÊN ĐỊANĂNG LƯỢNG BÊN TRONG CON NGƯỜI

– CÁC HUYỀN THUẬT: THUẬT VỀ NHẬN – ĐIỀU KHÍ – TRUYỀN CHUYỂN – PHÓNG PHÁT THẦN LỰC GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN 

B- CÁC VẤN ĐỀ CỐT LÕI CẦN NHỚ KHI ĐỌC SÁCH

+ Mười lăm qui luật (Của Sách) này được chia thành:

– Sáu qui luật trên cõi trí (Từ quy luật 1 – 6).

– Năm qui luật trên cõi cảm dục.

– Bốn qui luật trên cõi trần.  

=> Tư tưởng chính cần được giữ rõ ràng trong trí là các qui luật này tự giới hạn chính chúng vào việc sử dụng năng lượng trong ba cõi thấp, và rằng năng lượng này hoặc là được vận dụng một cách hữu thức bởi linh hồn đang chi phối, hoặc là bị cuốn vào hoạt động bởi mãnh lực vốn có trong vật chất của ba cõi thấp, độc lập với linh hồn. Khi xảy ra trường hợp này, con người là một nạn nhân của các năng lượng thuộc về sắc tướng (form energies) của riêng y và khía cạnh vật chất của toàn cuộc biểu lộ. Trong trường hợp kia, con người là chủ thể cai quản sáng suốt, kẻ điều khiển các vận mệnh riêng của mình, đưa các năng lượng thấp vào các hình hài và các hoạt động nhờ sức mạnh của các xung lực trí tuệ của mình, và sự tập trung chú ý của chính linh hồn y. Trong sáu qui luật đã được xem xét, một hoặc hai ý tưởng nổi lên rõ ràng nhất và có thể được tóm tắt trong các thuật ngữ sau đây:
Qui luật 1 – Ký ức, đưa đến định trí.
Qui luật 2 – Sự đáp ứng, dẫn đến một sự tương tác giữa cái cao với cái thấp.
Qui luật 3 – Sự phát xạ, dẫn đến việc phát ra âm thanh.
Qui luật 4 – Sự hô hấp, dẫn đến công việc sáng tạo.
Qui luật 5 – Sự tái hợp nhất, đưa đến sự nhất quán.
Qui luật 6 – Sự tái định hướng, dẫn đến linh thị rõ rệt về Thiên Cơ (the Plan).
Các đạo sinh cần xem xét kỹ mối quan hệ này và tìm cho ra sự tổng hợp ẩn bên dưới.
 (LVHLT, 220)

CÁC NHẬN XÉT DẪN NHẬP

+ CẤU TẠO CON NGƯỜI THEO LUẬN VỀ HUYỀN LINH THUẬT (LVHLT, 35)

1. Linh hồn, của đại thiên địatiểu thiên địa, của vũ trụcon người, là thực thể được tạo ra khi trạng thái tinh thầntrạng thái vật chất được liên kết với nhau.
a/ Do đó linh hồn không phải là tinh thần, cũng không phải là vật chất mà là mối quan hệ (relation) giữa cả hai.
b/ Linh hồn là chủ thể trung gian (mediator) giữa nhị nguyên tính này; nó là nguyên khí giữa, khoen nối giữa Thượng Đế với sắc tướng của Ngài.
c/ Do đó, linh hồn là một tên gọi khác để chỉ nguyên khí Christ, dù là trong thiên nhiên hoặc trong con người. (LVHLT, 35)

5. Tinh thần hay Chân Thần trước tiên là biểu hiện của ý chí, với bác ái và sự thông tuệ như là các nguyên khí phụ, còn bản thể con người, tức phàm ngã, được phân biệt trước tiên bằng sự thông tuệ, nhưng linh hồn, một cách rất đặc biệt, có tính chất bác ái vốn cũng thể hiện dưới hình thức minh triết khi sự thông tuệ của phàm ngã được hòa nhập với bác ái của linh hồn. Bảng sau đây có thể giúp làm cho ý tưởng rõ ràng hơn.
+ Chân Thần …….. Ý Chí …………. Mục Tiêu
– Ngôi Một ………. Ý Chí, giúp cho Chân Thần tham dự vào mục (1st Aspect) tiêu đại đồng (universal purpose).
– Ngôi Hai ……….. Bác Ái, năng lượng được tuôn đổ vào linh (2nd Aspect) hồn, làm cho linh hồn có bản chất riêng biệt.
– Ngôi Ba ………… Sự Thông Tuệ, được truyền qua linh hồn và (3rd Aspect) được đưa vào biểu lộ qua trung gian xác thân.

+ Linh Hồn ………. Bác Ái ………. Phương Pháp

– Ngôi Một …. Ý Chí, tạm thời chưa hoạt động nhưng tự biểu hiện qua trạng thái trí tuệ của phàm ngã và qua Kundalini, luồng hỏa này khi được đánh thức đúng đắn, sẽ làm cho các cuộc điểm đạo cuối cùng có thể đi vào tâm thức của Chân Thần.
– Ngôi Hai …. Bác Ái, thần lực chủ đạo của sự sống linh hồn; qua việc sở hữu này và loại năng lượng này, linh hồnthể đồng cảm với mọi linh hồn. Qua thể tình cảm, linh hồnthể tiếp xúc với mọi linh hồn động vật hay mọi linh hồn dưới nhân loại (animal or subhuman souls); qua hoạt động của linh hồn trên cõi riêng của nó, linh hồnthể tiếp xúc với các linh hồn của tất cả những người đang thiền định; và qua nguyên khí bồ đề, linh hồnthể tiếp xúc với trạng thái thứ hai của Chân Thần.
– Ngôi Ba …. Tri thức. Trạng thái này được đưa vào tiếp xúc với sự thông tuệ của mọi tế bào trong cơ cấu tam phân của thể.

* Nhờ nghiên cứu kỹ đoạn nói trên, sự việc trở nên rõ ràng là bằng cách nào linh hồn hoạt động như là tác nhân trung gian giữa Chân Thần với phàm ngã.
Phàm ngã che giấu trong chính nó, như cái hộp che giấu viên ngọc, điểm ánh sáng đó của linh hồn mà chúng ta gọi là ánh sáng trong đầu. Điểm này nằm bên trong não bộ, và chỉ được khám phá và sau đó được sử dụng khi trạng thái cao nhất của phàm ngã, tức thể trí, được phát triển và hoạt động.
Kế đó sự hợp nhất với linh hồn được thực hiện và linh hồn hoạt động qua bản chất phàm ngã.(LVHLT. 41)

+ CẤU TẠO VÀ SỰ TƯƠNG ỨNG CỦA CON NGƯỜI (LVHLT, 42 – 51)

c/ Phàm Ngã, Sự Xuất Hiện ở Cõi Hiện Tượng (The Body, the Phenomenal Appearance)
Không có nhiều điều cần thiết được viết ra ở đây về việc này, vì bản thể con người (phàm ngã) và khía cạnh sắc tướng đã là đối tượng sưu khảo và đề tài của tư tưởng và thảo luận của người biết suy tư từ nhiều thế kỷ. Nhiều điều mà họ đã đạt đến về căn bản là đúng. Nhà sưu khảo hiện đại sẽ thừa nhận Định Luật Tương Đồng như là nền tảng của các tiền đề, và đôi khi sẽ nhận ra lý thuyết Hermes cho rằng “Trên sao, dưới vậy” (“As above, so below”) có thể phóng chiếu nhiều ánh sáng lên các vấn đề hiện tại. Các định đề sau đây có thể dùng để minh giải:
1. Trong bản thể con người của mình, con người là một tổng thể (sum total), một sự thống nhất (a unity).
2. Cái tổng thể này được chia nhỏ thành nhiều phần và nhiều cơ quan.
3. Tuy thế nhiều tế phân này hoạt động theo một cách thức thống nhất và thể là một tổng thể được liên kết.
4. Mỗi một trong các phần của nó khác nhau về hình thể và về chức năng, nhưng tất cả đều tùy thuộc lẫn nhau.
5. Tuần tự, mỗi phần và mỗi cơ quan được cấu tạo bởi các phân tử, các tế bào và các nguyên tử, tất cả được giữ chung lại với nhau dưới hình thức của một thể bởi sự sống của tổng thể.

6. Cái tổng thể con người chia 5 phần, một số có tính quan trọng hơn một số khác, nhưng tất cả đều làm cho toàn vẹn thể sống động = Một con người.
a/ Đầu.
b/ Thân trên (upper torso), hay là phần nằm trên cách mô (diaphragm, cơ hoành).
c/ Thân dưới (lower torso) hay là phần nằm bên dưới cách mô.
d/ Tay.
e/ Chân.
7. Các cơ cấu này dùng cho các mục đích khác nhau, và sự tiện lợi của tổng thể (whole) tùy thuộc vào sự vận hành đúng đắn và sự hiệu chỉnh thích hợp của chúng.
8. Mỗi một trong các cơ cấu này đều có sự sống riêng của nó, vốn là toàn bộ sự sống của cấu trúc nguyên tử của nó, và cũng được làm cho sinh động bởi sự sống thống nhất của tổng thể, được điều khiển từ đầu bằng ý chí hay năng lượng thông tuệ của chân nhân (spiritual man).
9. Phần quan trọng của thể chính là bộ phận gồm ba phần, tức là đầu, thân trên và thân dưới. Con ngườithể hoạt động và sống mà không có tay và chân.
10. Mỗi một trong ba phần này cũng chia làm ba theo khía cạnh vật chất, tạo ra sự tương đồng với ba phần của bản chất con người và chín phần của sự sống hoàn thiện của Chân Thần. Có các cơ quan khác, nhưng các cơ quan được liệt kê này là các cơ quan có một ý nghĩa huyền bí có giá trị lớn hơn các phần khác.
a/ Bên trong đầu là:
– Năm não thất (five ventricles of the brain) hay là cái mà chúng ta có thể gọi là não bộ, như là một cơ quan thống nhất.
– Ba tuyến (glandes), gồm tuyến động mạch cảnh (carotid), tuyến tùng quả (pineal) và tuyến yên (pituitary).
– Hai mắt.
b/ Trong thân trên là:
– Cổ họng.
– Hai phổi.
– Tim.
c/ Trong thân dưới có:
– Lá lách.
– Bao tử.
– Các cơ quan sinh dục.

11. Toàn bộ thể cũng có ba phần:
a/ Da và cấu trúc xương.
b/ Mạch máu hay hệ tuần hoàn.
c/ Hệ thần kinh tam phân.

12. Mỗi một trong các tam bộ này tương ứng với ba phần của bản chất con người:
a/ Bản chất vật chất (physical nature): da và cấu trúc xương là sự tương đồng với nhục thân và thể dĩ thái của con người.
b/ Bản chất linh hồn (soul nature): Các mạch máu và hệ tuần hoàn là sự tương đồng với cái linh hồn lan tỏa khắp nơi đó, linh hồn đó xâm nhập vào mọi phần của thái-dương hệ, như máu đi đến mọi phần của thể.
c/ Bản chất tinh thần (spirit nature): Hệ thần kinh, vì nó truyền năng lượng và tác động khắp con người vật chất, là sự tương ứng với năng lượng của tinh thần.

13. Trong đầu, chúng ta có sự tương đồng với trạng thái tinh thần, tức là ý chí điều khiển, Chân Thần, Đấng Duy Nhất:
a/ Bộ óc với năm não thất của nó là sự tương đồng với hình hài vật chất, mà tinh thần làm sinh động liên quan với con người, cái toàn bộ gồm năm phần đó vốn là phương tiện mà qua đó tinh thần phải tự biểu lộ trên cõi trần.
b/ Ba tuyến ở trong đầu có liên quan mật thiết với linh hồn hay bản chất tâm linh (psychic nature) (cao và thấp).
c/ Hai mắt là các tương ứng thuộc cõi trần với Chân Thần, mà Chân Thần lại là ý chíbác áiminh triết hay là atma-buddhi, theo thuật ngữ huyền linh học.

14. Trong thân trên (upper body) chúng ta có một tương đồng với bản chất linh hồn tam phân.
a/ Cổ họng (throat), tương ứng với trạng thái sáng tạo thứ ba hay là bản thể con người, sự thông tuệ linh hoạt của linh hồn.
b/ Tim, bác ái-minh triết của linh hồn, thể bồ đề (buddhi) hay nguyên khí Christ.
c/ Hai lá phổi, tương đồng với hơi thở của sự sống, là sự tương ứng của tinh thần.

15. Trong thân dưới, chúng ta lại có hệ thống tam bộ này được thể hiện:
a/ Các cơ quan tính dục, khía cạnh sáng tạo, tác nhân tạo ra thân thể.
b/ Bao tử, với vai trò là biểu lộ hồng trần của bí huyệt đan điền (solar plexus), là sự tương đồng với bản chất linh hồn.
c/ Lá lách, nơi nhận năng lượng và do đó là biểu hiện ở cõi trần của trung tâm lực đang nhận năng lượng này, là sự tương đồng với tinh thần truyền năng lượng.

+ Thể sinh lực (vital body) là sự biểu lộ của năng lượng linh hồn và có chức năng sau:
1. Nó hợp nhất và liên kết toàn thể mọi hình tướng thành một tổng thể.
2. Nó cung cấp cho mỗi hình tướng tính chất riêng biệt của hình tướng đó, và điều này là do bởi:
a/ Loại vật chất được cuốn hút vào phần cụ thể đó của mạng lưới sự sống (web of life, sinh-võng).
b/ Vị trí (position) trong thể của Hành Tinh Thượng Đế, chẳng hạn, của một hình hài đặc biệt nào đó.
c/ Giới cụ thể (particular kingdom) trong thiên nhiên đang được truyền sinh khí.

3. Đó là nguyên khí hội nhập và là lực biểu lộ cố kết, theo ý nghĩa hoàn toàn vật chất.
4. Mạng lưới sự sống này là sự tương đồng về mặt chủ quan đối với hệ thần kinh, và những kẻ bắt đầu tiến vào các khoa học nội mônthể, nếu họ nhớ điều này, hình dung cho chính họ một mạng lưới thần kinh và đám rối (plexus, tùng, đám rối, búi) chạy khắp toàn bộ thể, hay là toàn bộ mọi hình hài, phối hợp và liên kết, và tạo ra một sự hợp nhất cơ bản.
5. Bên trong sự hợp nhất đó là sự đa dạng. Giống như các cơ quan khác nhau của thể con người được liên kết với nhau bằng sự phân nhánh của hệ thần kinh, cũng thế, bên trong thể của Hành Tinh Thượng Đếcác giới khác nhau trong thiên nhiên và vô số các hình hài. Đàng sau vũ trụ khách quan là thể nhạy cảm tinh anh hơn – một cơ cấu, không phải nhiều, một hình tướng có tính cảm thụ, đáp ứng, liên kết chặt chẽ với nhau.
6. Hình hài nhạy cảm này không những chỉ là những gì đáp ứng với môi trường chung quanh, mà còn là tác nhân truyền chuyển (từ các cội nguồn bên trong) một vài loại năng lượng, và mục tiêu của Bộ Luận có thể được trình bày ở đây, là nhằm cứu xét các loại năng lượng khác nhau được truyền đến hình hài trong giới nhân loại, sự đáp ứng của hình hài đối với các loại thần lực, các ảnh hưởng của lực đó lên con người, và sự đáp ứng dần của y đối với lực đang phát ra:
a/ Từ môi trường chung quanh của y, cộng với thể xác bên ngoài của riêng y.
b/ Từ cõi tình cảm, hay lực cảm dục.
c/ Cõi trí hay các luồng tư tưởng.
d/ Lực của Chân Ngã (Egoic force), một mãnh lực chỉ được con người nhận ra, và giới thứ tư trong thiên nhiên là tác nhân bảo quản của nó, và lực đó cũng có các ảnh hưởng huyền bí và đặc thù.
e/ Loại năng lượng vốn tạo ra ra sự gắn kết (concretion) các ý tưởng trên cõi trần.
f/ Năng lượng hoàn toàn có tính chất tâm linh, hay thần lực từ cõi của Chân Thần.

Tất cả các loại lực khác nhau này có thể được biểu lộ trong giới nhân loại. Một số các lực đó có thể được biểu lộ trong các giới dưới nhân loại, và bộ máy của thể sinh lực trong con người được cấu tạo, sao cho thông qua ba biểu lộ ra ngoại cảnh của nó, hệ thần kinh tam phân, qua bảy đám rối chính (major plexi, các trung tâm lực chính), các hạch thần kinh (nerve ganglia) thứ yếu và hàng ngàn dây thần kinh, tức toàn bộ con người ngoại cảnh có thể đáp ứng với:
a/ Các loại thần lực được nói đến ở trên.
b/ Các năng lượng được tạo ra ở trong và phát ra từ bất cứ phần nào của lưới sự sống bằng chất dĩ thái của hành tinh.
c/ Lưới sự sống của thái dương (solar web of life).
d/ Các chòm sao của Hoàng Đạo, chúng tỏ ra có một ảnh hưởng thực sự trên hành tinh chúng ta mà cho đến nay, chiêm tinh học là sự nghiên cứu còn non nớt về chúng.
e/ Một vài vũ trụ lực, vốn sẽ được nhận biết sau này, đang tác động lên và tạo ra các thay đổi trong thái-dương-hệ chúng ta, và tất nhiên trên hành tinh chúng ta, và trên mọi hình hài bên trên và bên trong sự sống hành tinh đó. Điều này đã được đề cập đến trong “Luận Về Lửa Càn Khôn”.
Lưới sự sống hành tinh đáp ứng với tất cả các lực này, và, khi các chiêm tinh gia hoạt động theo con đường huyền linh và xem xét lá số tử vi hành tinh, họ sẽ đạt đến một sự hiểu biết nhanh chóng hơn về các ảnh hưởng của Hoàng Đạo và vũ trụ.

+ Linh Hồn Thế Giới (Anima mundi): Là những gì nằm đàng sau lưới sự sống. Lưới sự sống chỉ là biểu tượng vật chất của linh hồn đại đồng (universal soul) đó; đó là dấu hiệu bên ngoài và hữu hình của thực tại bên trong, sự cụ thể hóa của thực thể đáp ứng nhạy bén đang liên kết tinh thầnvật chất lại với nhau. Chúng ta gọi thực thể này là Linh Hồn Đại Đồng (Universal Soul), tức nguyên khí trung gian theo quan điểm của sự sống hành tinh.

* Khi chúng ta thu hẹp ý niệm xuống đến gia đình nhân loại, và xem xét con ngườibiệt, chúng ta gọi nó là nguyên khí trung gian, vì linh hồn của nhân loại không chỉ là một thực thể liên kết tinh thần với vật chất, và làm trung gian (mediate) giữa Chân Thần với phàm ngã, mà linh hồn nhân loại còn có một chức năng độc đáo là thực hiện vai trò trung gian giữa ba giới cao trong thiên nhiên với ba giới thấp. Ba giới cao là:

1. Huyền Giai Tinh thần (Spiritual Hierarchy) của hành tinh chúng ta, các tinh linh thiên nhiên (nature spirits, tinh linh ngũ hành) hay là các thiên thần (angels), và các tinh thần con người (human spirits), đang đứng ở một điểm đặc biệt trên thang tiến hóa. Trong số các vị này, Đức Sanat Kumara (Đức Ngọc Đế), hiện thân cho một nguyên khí của Hành Tinh Thượng Đế, ở vị trí cao nhất, và một điểm đạo đồ cấp thứ nhất ở vị trí thấp nhất, cùng với các thực thể tương ứng trong giới mà chúng ta gọi là giới thiên thần (angel or deva kingdom).
2. Huyền Giai của các Cung – một số tập hợp của bảy cung có liên quan với hành tinh chúng ta.
3. Một Huyền Giai các Đấng Cao Cả, được tập hợp lại bởi một diễn trình tiến hóa, bắt nguồn từ sự tiến hóa hành tinh chúng ta và từ bốn hành tinh khác, các Ngài tiêu biểu trong chính các Ngài mục tiêu và kế hoạch của Thái Dương Thượng Đế liên quan với 5 hành tinh có liên can.

Biểu tượng lớn của linh hồn trong con ngườithể sinh lực hay thể dĩ thái của y, và vì các lý do sau đây:
1. Đó là tương ứng vật chất đối với thể ánh sáng bên trong (inner light body) mà chúng ta gọi là thể linh hồn (soul body) tức thể tinh thần (spiritual body). Nó được gọi là “chén vàng (“golden bowl”) trong Thánh Kinh (Bible) và được nhận ra bởi:
a/ Tính chất ánh sáng của nó.
b/ Tốc độ rung động của nó, tốc độ này luôn luôn đồng bộ với sự phát triển của linh hồn.
c/ Lực cố kết của nó, đang liên kết và kết nối mọi phần của cấu trúc thể.

2. Đó là “mạng lưới sự sống” (“web of life”) của tiểu thiên địa vì nó nằm dưới mọi phần của cấu trúc vật chất và có ba mục tiêu:
a/ Truyền nguyên khí sự sống, năng lượng vốn tạo ra hoạt động, đi khắp thể. Nó làm được điều này nhờ dòng máu, điểm tập trung cho sự phân phối này là tim. Đó là tác nhân vận chuyển sinh lực cho thể xác.
b/ Làm cho linh hồn, hay con người, chưa phải là con người tâm linh, đồng cảm với môi trường chung quanh của y. Việc này được tiến triển qua trung gian của toàn bộ hệ thần kinh, điểm tập trung của hoạt động đó là não bộ. Đây là trung tâm của sự tiếp nhận hữu thức.
c/ Sau rốt, qua sự sống và tâm thức, tạo ra một hoạt động tỏa chiếu, tức là sự biểu lộ của vinh quang, vốn sẽ làm cho mỗi người thành một trung tâm hoạt động để phân phối ánh sáng và năng lượng thu hút đến những kẻ khác trong giới nhân loại, và qua giới nhân loại, đến các giới dưới nhân loại. Đây là một phần của kế hoạch của Hành Tinh Thượng Đế để truyền sinh lựcphục hồi lại rung động của các hình hài mà chúng ta gọi là dưới nhân loại.

3. Biểu tượng tiểu thiên địa này của linh hồn chẳng những nằm dưới toàn bộ cấu trúc vật chất, và như thế là một biểu tượng của anima mundi, hay là linh hồn thế giới (world soul), mà còn là một thực thể thống nhất, cố kết và không thể phân chia được, do đó tượng trưng cho sự thống nhất (unity) và sự thuần trạng (homogeneity) của Thượng Đế. Không có các cơ cấu riêng biệt trong đó, mà chỉ là một thểthần lực đang tuôn chảy tự do, thần lực đó chính là một sự phối hợp hay sự hợp nhất của hai loại năng lượng với số lượng thay đổi, năng lượng năng động và năng lượng thu hút hay từ lực. Hai loại năng lượng này cũng tiêu biểu cho linh hồn đại đồng – thần lực của ý chí, và của bác ái, hay của atmabuddhi, và chính sự tác động của hai lực này lên vật chất mới thu hút vào thể dĩ thái của mọi hình hài các nguyên tử vật chất cần thiết, và – khi đã thu hút chúng như thế − bằng mãnh lực của ý chí, thôi thúc chúng vào một số hoạt động.

4. Thể ánh sángnăng lượng cố-kết, thống-nhất này là biểu tượng của linh hồn, nơi đó nó có bên trong nó bảy điểm tập trung, mà trong đó sự ngưng tụ (condensation), nếu nó phải được gọi thế, của hai năng lượng phối hợp được tăng cường. Các điểm tập trung này tương ứng với bảy điểm tập trung trong thái-dương-hệ, trong đó Thái Dương Thượng Đế, thông qua bảy Hành Tinh Thượng Đế, tập trung các năng lượng của Ngài. Điều này sẽ được thảo luận chi tiết sau. Điểm cần được lưu ý ở đây chỉ là bản chất có tính chất biểu tượng của thể dĩ-thái hay thể sinh-lực, vì chính bằng việc tìm hiểu bản chất của các năng lượng được hiển lộ, và bản chất thống nhất của hình tướng và sự hoạt động, mà một ý tưởng nào đó về hoạt động của linh hồn, tức nguyên khí trung gian trong thiên nhiên, mới có thể được hiểu rõ.

5. Tính tượng trưng cũng được đưa ra khi người ta nhớ rằng thể dĩ thái liên kết thể xác thuần túy, tức nhục thân (dense body) với thể tinh anh thuần khiết, tức thể cảm dục hoặc thể tình cảm (the astral or emotional body). Trong thể này, người ta thấy hình ảnh (reflection) của linh hồn trong con người liên kết ba cõi thấp (tương ứng với các trạng thái đặc, lỏng và khí của thể thuần vật chất của con người) với các cõi cao trong thái-dương-hệ, như vậy liên kết cõi trí với cõi bồ đề và liên kết thể trí với các trạng thái trực giác của tâm thức. (LVHLT, 50)

Qui Luật Một

VÀI GIẢ THUYẾT CĂN BẢN

 

Qui Luật Ba

ÁNH SÁNG LINH HỒN VÀ ÁNH SÁNG THỂ XÁC

* CÁC CON ĐƯỜNG TIẾN HÓA CỦA MỘT NGƯỜI TÙY KHÍ CHẤT TRONG KIẾP SỐNG

+ Để trả lời một cách dứt khoát:
– Con đường tri thức là con đường của nhà huyền linh học và bậc hiền triết;
– Con đường bác ái là con đường của nhà thần bí và vị thánh.
=> Sự tiếp cận ở đầu hoặc ở tim không phụ thuộc vào cung, vì cả hai cách phải được hiểu biết; nhà thần bí phải trở thành nhà huyền linh học; nhà huyền linh học bên chính đạo (white occultist) đã là nhà thần bí thánh thiện (saintly mystic). Tri thức thực sự (true knowledge) là lòng bác ái sáng suốt, vì đó là sự phối hợp của trí tuệ (intellect) và lòng sùng đạo. Sự hợp nhất được cảm nhận nơi tim; việc ứng dụng nó sáng suốt vào đời sống phải được tiến hành thông qua tri thức.

=> Thật là vô cùng giá trị trong việc nhận ra xu hướng của mục đích cuộc đời, và trong việc biết liệu phương pháp thông qua đầu hoặc phương pháp thông qua tim là mục tiêu của một kiếp sống đặc biệt nào đó. Tuy nhiên, một khả năng phân biện tinh thần tinh tế thì cần thiết ở đây, để không bị sự cám dỗ của ảo giác lôi cuốn vào con đường trì trệ (inertia). Hãy nghiền ngẫm kỹ về những lời này, và hãy thấy rằng vấn đề dựa trên một nền tảng chân thật và không xuất phát từ một mặc cảm tự ti, việc để ý đến sự nghiệp của một huynh đệ và một xu hướng ghen ghét tất nhiên, hoặc dựa vào một sự tự mãn bình thản vốn phủ nhận sự hoạt động.(LVHLT, 120)

Qui Luật Bốn

Âm thanh, ánh sáng, sự rung động, và hình tướng phối hợp và hòa nhập; và như thế công việc hợp nhất. Nó diễn tiến theo thiên luật và giờ đây không gì có thể cản trở công việc đang xúc tiến. Con người hít thở sâu. Y tập trung các sức mạnh của mình lại và xua hình tư tưởng ra khỏi y.

1- Công Việc Sáng Tạo của Âm Thanh.

2- Khoa Học về Hơi Thở.

  1- CÔNG VIỆC SÁNG TẠO CỦA ÂM THANH

* ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÁC QUY LUẬT TRONG SÁCH NÀY (LVHLT, 125)

+ Các qui luật này không dành cho những người sơ cơ trong các ngành khoa học huyền bí; chúng được dành cho những người đã sẵn sàng cho công tác huyền thuật, và cho công việc khó khăn trên cõi trí.
Bác ái là tác nhân hợp nhất vĩ đại, xung lực thu hút hàng đầu, thuộc vũ trụtiểu thiên địa,
– Nhưng thể trínhân tố sáng tạo chính và là tác nhân vận dụng (utiliser) các năng lượng của vũ trụ.
Bác ái thu hút, còn thể trí thì thu hút, xô đẩy và kết hợp, cho nên tiềm năng của nó là không thể tưởng tượng được. Phải chăng không thể cảm nhận một cách mơ hồ một tình trạng của các sự việc trong các lĩnh vực trí tuệ, tương tự như tình trạng được thấy hiện nay trong lĩnh vực tình cảm hay sao?

2- KHOA HỌC VỀ HƠI THỞ (Trang 149)

Bây giờ chúng ta đi đến các từ quan trọng trong Qui Luật IV. Con người hít thở sâu”. Đây là một cụm từ bao gồm nhiều khía cạnh của cách sống nhịp nhàng. Đó là phương pháp kỳ diệu dành cho khoa học về kiểm soát sinh khí prana (Pranayama – sự điều khí). Nó bao hàm nghệ thuật của đời sống sáng tạo. Nó lôi cuốn một người vào sự hòa hợp với sự sống đang đập nhịp của chính Thượng Đế, và điều này nhờ vào tính dứt bỏ và sự tái định hướng (detachment and re- orientation).

Nó đặc biệt lý thú với tư cách là một sự thể hiện của tính súc tích (succinctness) và tính toàn diện của các cụm từ huyền bí như trong Qui Luật IV. Nghệ thuật thở được đề cập đến trong ba giai đoạn (phases), và Tôi giới thiệu ba giai đoạn này cho mỗi người trong các bạn để xem xét thật cẩn thận.

Đầu tiên có trạng thái Hít Vào (Inhalation). “Người hít thở sâu”. Từ tận nơi sâu nhất của bản thể (being) của y, y hít hơi thở vào. Trong diễn trình của đời sống hiện tượng, con người hít vào chính hơi thở của sự sống từ linh hồn. Đây là giai đoạn đầu tiên. Trong tiến trình tự tách mình ra khỏi đời sống hiện tượng, y rút sự sống từ nơi sâu nhất của bản thể của y, và trải nghiệm sự sống, để cho nó có thể được hoàn trả lại cho cội nguồn phát xuất của nó. Trong đời sống huyền linh của đệ tử, khi y phát triển một công dụng mới và tinh vi hơn của bộ máy đáp ứng của mình, đó là y thực tập khoa học về hơi thở, và phát hiện ra rằng nhờ việc thở sâu (bao gồm ba giai đoạn hơi thở sâu, giữa, và đỉnh – three stages of deep, middle and top breath), y có thể đưa thể sinh lực của y với các trung-tâm-lực của nó vào hoạt động trong thế giới của các kinh nghiệm nội môn. Như thế, ba trạng thái của “việc hít thở sâu” bao gồm toàn bộ sự trải nghiệm của linh hồn, và mối quan hệ với ba kiểu thở, được đề cập đến ở trên, có thể được thực hiện bởi người tìm đạo có quan tâm.

Tiếp theo chúng ta đọc thấy “y tập trung các lực của mình”. Ở đây chúng ta có giai đoạn được ngụ ý, vốn có thể được gọi là sự giữ lại hơi thở (retention of the breath). Nó là việc giữ lại tất cả các lực của sự sống một cách kiên trì ở chốn im lặng, và khi điều này có thể được thực hiện dễ dàng và với việc quên lảng tiến trình nhờ sự quen thuộc và kinh nghiệm, thì khi đó con ngườithể thấy, nghe và hiểu biết trong một lĩnh vực khác hơn thế giới hiện tượng. Theo ý nghĩa cao hơn thì đây là giai đoạn nhập định (contemplation), là giai đoạn “tạm lắng (lull) giữa hai hoạt động” như nó đã được gọi một cách thích hợp như vậy. Linh hồn, hơi thở, sự sống đã rút ra khỏi ba cõi thấp, và ở trong “chốn bí nhiệm của cõi cao thâm nhất”, trở nên thanh thản (at rest) và an bình (at peace), nhập định vào thị kiến phúc lạc (contemplating the beatific vision). Trong đời sống của vị đệ tử năng động, có những thời kỳ chuyển tiếp (interludes) được tạo ra mà mỗi đệ tử đều biết, khi mà (nhờ hạnh dứt bỏ và năng lực triệt thoái) y không còn bị bất cứ thứ gì trong thế giới sắc tướng nắm giữ. Trong khi y chỉ đang phấn đấu hướng về sự hoàn thiện và chưa đạt được, thì các khoảng thời gian tĩnh lặng, rút lui (withdrawingness) và không bị ràng buộc này thường thì khó khăn và đen tối. Mọi sự đều yên lặng và y trở nên kinh sợ bởi điều không được biết, và bởi cái có vẻ tĩnh mịch trống rỗng mà y đang ở trong đó. Trong các trường hợp tiến hóa thì sự kiện này được gọi là “đêm đen của linh hồn” – đó là khoảnh khắc trước lúc bình minh, giây phút trước khi ánh sáng tuôn tràn.

Trong khoa học về Thuật Điều Khí (Pranayama), đó là thời điểm đi theo với việc hít vào, trong đó tất cả các lực của thể (qua trung gian của hơi thở) được đưa lên đầu, và được tập trung ở đó trước khi đến giai đoạn thở ra. Thời điểm lưu giữ này, khi được tiến hành một cách thích hợp, tạo ra một khoảng thời gian tập trung mãnh liệt, và chính vào lúc này mà người tìm đạo phải nắm lấy cơ hội. Nơi đây có một gợi ý.

Rồi đến tiến trình thở ra (exhalation). Chúng ta đọc trong Qui Luật IV “y xua hình-tư-tưởng ra khỏi y”. Đây bao giờ cũng là kết quả của giai đoạn cuối cùng của khoa học về hơi thở. Hình-tư-tưởng đó, được truyền sinh khí (vitalized) bởi người hít thở đúng nhịp điệu, lại được gửi ra để thực hiện công việc của nó và hoàn thành nhiệm vụ của nó. Hãy nghiên cứu ý tưởng này một cách cẩn thận, vì nó nắm giữ bí mật của hoạt động sáng tạo.

Trong kinh nghiệm của linh hồn, hình thể cho sự biểu lộ trong ba cõi thấp được tạo ra nhờ sự thiền định mãnh liệt, nó bao giờ cũng là hoạt động song song của việc thở. Kế đó, bằng một tác động của ý chí dẫn đến việc “thở ra”, và được sinh ra hoặc được đạt đến một cách năng động trong thời gian chuyển tiếp (interlude) của sự nhập định hoặc lưu giữ hơi thở, hình thể tạo ra được đưa vào thế giới hiện tượng, để dùng như một đường truyền kinh nghiệm, một phương tiện biểu lộ và một bộ máy đáp ứng trong ba cõi thấp của đời sống con người.
Trong đời sống của người môn đệ, nhờ thiền định và giới luật, y học cách để đạt được những khoảnh khắc cao của thời kỳ chuyển tiếp, bất cứ khi nào y tập trung các sức mạnh của mình trên cõi của sự sống linh hồn, và sau đó một lần nữa bằng một tác động của ý chí của mình, y truyền thổi ra các mục đích tâm linh, các kế hoạch và sự sống vào thế giới của kinh nghiệm. Các hình-tư-tưởng mà y đã kiến tạo đối với phần việc mà y phải tham gia, và sự tập trung năng lượng mà y đã thành công trong việc mang lại, bắt đầu có hiệu quả. Năng lượng cần cho bước tiếp theo được linh hồn thở ra và chuyển xuống vào thể sinh lực, nhờ thế kiến tạo khí cụ vật chất với hoạt động xây dựng cần thiết. Khía cạnh đó của kế hoạch mà y đã thấu hiểu trong lúc nhập-định, và phần đó của mục đích chung của Thánh Đoàn, mà linh hồn của y cảm thấy được yêu cầu hợp tác trong đó, được thở ra cùng một 152 lúc, xuyên qua thể trí vào trong não bộ, và như thế “y xua các hình-tư-tưởng ra khỏi y”.

Cuối cùng, trong khoa học về Điều Khí, giai đoạn này bao gồm hơi thở ra đó, khi được tiến hành với tư tưởng và mục tiêu hữu thức đằng sau nó, dùng để tiếp sinh lực cho các trung tâm lực và lấp đầy mỗi trung tâm lực đó với sự sống năng động. Còn nhiều điều nữa không cần nói ở đây.

Như vậy, trong khoa học về việc “thở sâu” này,… Qui Luật IV là một tóm tắt có hệ thống của Sự Sáng Tạo. Đó cũng là thể thức mà linh hồnnhân hoạt động theo đó, khi nó tập trung các sức mạnh của mình để biểu lộ trong ba cõi kinh nghiệm của con người.

Việc vận dụng đúng đắn Sinh-Khí (Life-Breath) là toàn bộ nghệ thuật mà người tìm đạo, bậc đệ tửđiểm đạo đồ đang hoạt động ở đó, tuy nhiên ghi nhớ kỹ rằng khoa học về hơi thở của xác thân là khía cạnh ít quan trọng nhất và nó liên tục theo sát việc sử dụng đúng đắn năng lượng, vốn là từ ngữ mà chúng ta áp dụng cho hơi thở thiêng liêng hay là sự sống.
Cuối cùng, trong đời sống trí tuệ của người môn đệ, và trong công việc lớn lao là học hỏi để thành một chủ thể sáng tạo hữu thức trong chất trí, và như thế tạo ra các kết quả trong thế giới hiện tượng, Qui Luật thứ tư này nắm giữ các hướng dẫn mà công việc này được dựa vào đó. Nó tiêu biểu cho khoa học về toàn bộ công tác huyền thuật (magical work).

Do đó, Qui Luật này bảo đảm cho việc xem xét và nghiên cứu chặt chẽ nhất. Được hiểu đúng và được nghiên cứu một cách đúng đắn, nó sẽ dẫn mỗi người tìm đạo ra khỏi thế giới hiện tượng, vào giới linh hồn. Các hướng dẫn của nó, nếu được thực hiện, sẽ dẫn dắt linh hồn trở lại vào thế giới hiện tượng với tư cách là lực sáng tạo trong huyền thuật về linh hồn và với tư cách là chủ thể vận dụng và là yếu tố chi phối hình tướng và thông qua hình tướng.

Một số qui luật về việc thở, về tiến trình hữu ích và về cách sống thực tế trên cõi trần sẽ được truyền đạt, nhưng trong việc đào tạo loại đệ tử mới trong kỷ nguyên sắp tới, chính ý muốn của vị Gurus và Rishis đang trông nom là họ sẽ được để tự do hơn là trường hợp từ trước đến giờ. Điều này có thể hàm ý một sự phát triển hơi chậm hơn lúc đầu nhưng hy vọng sẽ đưa đến một sự khai mở (unfoldment) nhanh hơn trong các giai đoạn sau trên Con Đường Điểm Đạo.

Do đó, các đạo sinh được thúc đẩy tiến tới trong thời kỳ luyện tập của họ với lòng can đảm và niềm vui, do biết rằng họ là các thành viên của một nhóm các đệ tử, vì biết rằng họ không đơn độc mà biết rằng sức mạnh của nhóm là sức mạnh của họ, sự hiểu biết của nhóm cũng là hiểu biết của họ, khi họ phát triển khả năng để hiểu biết về nó, − và cũng biết rằng bác ái, minh triết và sự hiểu biết của các Huynh Trưởng (Elder Brothers) đang trông nom ở phía sau của mọi Đứa Con Thượng Đế đang cố gắng vươn lên, mặc dù có vẻ như (và một cách khôn ngoan) y bị bỏ mặc để chiến đấu đến cùng, đạt tới ánh sáng bằng sức mạnh của chính linh hồn toàn năng của mình.

 

Qui Luật Năm (Trang 157)

 

Ba sự việc lôi cuốn Thái Dương Thiên Thần (Solar Angel) trước khi lớp vỏ (sheath) được tạo ra chuyển xuống phía dưới; tình trạng của nước, sự an toàn của người sáng tạo như thế, và sự nhập định kiên định. Như thế, tim, cổ họng và mắt, được kết hợp cho việc phụng sự tam phân.

Linh hồn và các Hình-Tư-Tưởng của nó.

Tim, cổ họng và mắt.

Việc khơi hoạt các bí huyệt.

Qui Luật Năm

LINH HỒN VÀ CÁC HÌNH-TƯ-TƯỞNG CỦA NÓ

Qui luật thứ năm này đề cập đến ba yếu tố vốn lôi cuốn sự chú ý của tác nhân sáng tạo, trước khi hình hài vật chất (physical form) hiện ra trong tầm nhìn trên cõi bên ngoài. Ba yếu tố này là:
1. Tình trạng của nước (condition of the waters).
2. Sự an toàn của người sáng tạo như thế (the safety of the one who thus creates).
3. Sự nhập định kiên định (steady contemplation).

Chúng ta sẽ đề cập vắn tắt ba điều này, và kế đó chúng ta sẽ xem xét ba yếu tốđệ tử cần phải liên kết nếu y luôn luôn nhắm vào việc trở thành một người cộng tác tích cực và đầy năng lực với Thánh Đoàn. Các yếu tố này là Mắt, Tim, Cổ Họng. Việc giải thích và ý nghĩa của các qui luật này có thể được tiến hành theo một vài đường lối. Đối với các mục đích của chúng ta, đường lối được theo sẽ là đường lối liên quan đến đệ tử và công việc của y, và sẽ đề cập đến việc huấn luyện y theo công tác huyền thuật của Chân Ngã, khi Chân Ngã đó chiếm ngụ và sử dụng một hình hài vật chất. Những giáo huấn này được dự định trở thành thực tế; chúng sẽ nhấn mạnh việc luyện tập và giới luật của đệ tử, và được phổ biến khắp nơi, người ta sẽ tìm thấy những ngụ ý và gợi ý huyền bí mà, khi được noi theo, sẽ dẫn người tìm đạo đến thực nghiệm và trải nghiệm chân lý. Những người không phải là người tìm đạo thực sự sẽ không nhận ra các gợi ý, và do đó sẽ được giữ khỏi sự nguy hiểm và kinh nghiệm quá sớm.

1. Tình Trạng của Nước (LVHLT, 159)

Tác nhân sáng tạo, tức con người, qua các thúc đẩy của một mục đích phối hợp, có ý định tham thiền và hoạt động sáng tạo, đã tạo ra hình-tư-tưởng mà y đang phú linh (ensouling) bằng sức sống riêng của mình và điều khiển với ý chí của mình. Đã đến lúc để cho hình-tư-tưởng đó được gửi đi theo sứ mệnh của nó, và để thực hiện mục tiêu tồn tại của nó. Như chúng ta đã thấy trong qui luật trước, hình-tư-tưởng được “xua” ra khỏi người tạo tác ra nó bằng sức mạnh của hơi thở ra. Đây là một phát biểu có tính biểu tượng, nhưng đồng thời là một sự kiện thực nghiệm trong công tác huyền thuật. Trong công việc của đệ tử, thường có sự thất bại do y không có khả năng để hiểu cả ý nghĩa huyền bí lẫn nghĩa đen của hơi thở ra này, khi y xúc tiến việc thiền định của mình. Hơi thở ra này là kết quả của giai đoạn đi trước của việc hít thở nhịp nhàng, được song hành bởi công việc thiền định có tập trung, rồi đến một sự tập trung chú ý rõ rệt và tập trung vào hơi thở, vì mục đích của hình-tư-tưởng tạo ra được xác định bằng trí, và cuối cùng là việc tiếp sinh lực cho hình-tưtưởng đó bởi người sáng tạo ra nó, và việc truyền năng lượng sau đó vào sự sống và hoạt động độc lập của nó.

Trở ngại đầu tiên cho hiệu lực của công việc là do sự thất bại của vị đệ tử khi tiến hành các hoạt động này cùng một lúc. Nguyên nhân thứ hai của sự thất bại nằm ở việc y không chú ý xem xét tình trạng của nước, hay là trạng thái của chất liệu tình cảm (emotional substance) mà hình trí tuệ này phải đến, và như thế thu hút vào nó vật chất của cõi cảm dục, điều này sẽ cho phép nó trở thành một thực thể hoạt động trên cõi đó. Nếu nó không thể làm được điều này, thì cuối cùng nó chỉ là một hình-tư-tưởng chết trên cõi trí, vì nó sẽ thiếu lực thúc đẩy đó của dục vọng, vốn cần để đưa nó tiến tới chỗ hoàn tất trên cõi trần.

Thật thú vị khi nhớ điều này: Nếu một hình-tư-tưởng được đưa vào thế giới cảm xúc để thu thập cho nó một thể của ham muốn (lực thôi thúc vốn tạo ra mọi biểu lộ ngoại tại – objectivity) và được nhấn chìm vào một “tình trạng của nước”, vốn có thể được mô tả tốt nhất như là hoàn toàn ích kỷ, thì tất cả những gì xảy ra là như sau: Nó bị mất, do bị hút vào thể cảm dục của vị đệ tử, vốn là điểm tập trung cho mọi năng lượng cảm dụcngười đệ tử sử dụng. Nó bị cuốn vào một lốc xoáy, mà thể cảm dụcnhân là trung tâm của lốc xoáy đó, và đánh mất sự sống riêng biệt của nó. Sự so sánh về xoáy nước có giá trị ở đây. Chủ thể tư tưởng giống như một người ném một chiếc thuyền đồ chơi từ trong bờ vào một dòng nước. Nếu anh ta ném chiếc thuyền đó vào một xoáy nước, nó bị hút ngay vào xoáy trung tâm và thế là biến mất. Nhiều hình-tư-tưởng được tạo ra như thế bởi một người tìm đạo trong công việc thiền định của y bị mất và thất bại trong mục tiêu của chúng, vì tình trạng hỗn loạn và xoay tít của thể tình cảm của người tìm đạo. Thế là các ý định tốt lành trở thành số không; thế là mục đích tốt đẹp và công việc được hoạch định cho Chân Sư không thành hiện thực, bởi vì, khi hình-tư-tưởng đi xuống vào cõi của ham muốn và cảm xúc, nó chỉ tiếp xúc với khối nước đang kích động vì sợ hãi, vì nghi ngờ, vì thù hận, vì sa đọa hoặc sự ham muốn hoàn toàn vật chất. Các điều này mạnh hơn hình-tư-tưởng bé nhỏ, nhấn chìm nó, và nó đi ra khỏi tầm mắt và ra khỏi sự tồn tại, và con người trở nên ý thức một nỗ lực nữa sớm thất bại. Hoặc một lần nữa, “tình trạng của khối nước” không phải là tình trạng của một xoáy nước được tự sinh ra, mà được liên kết nhiều hơn với vòng xoáy của một vũng nước, bị khuấy động thành một cơn sóng nổi bọt và sôi sục, thông qua các hoạt động của các vòng xoáy khác. Có nhiều đệ tử đã đạt đến một mức độ khá cao về việc tự kiềm chế và sự vô vị lợi cá nhân. Họ không phải là những nạn nhân của sự ham muốn và các mục tiêu của phàm nhân; và tương đối thoát khỏi vòng xoáy của các xu hướng ích kỷ. Nhưng thể cảm dục của họ hết lần này đến lần khác bị cuốn vào một trạng thái kích động bởi tập thể mà vì đó và trong đó họ làm việc. Họ phấn chấn hoặc chán nản, hài lòng hoặc không hài lòng với các kết quả mà họ đạt được hoặc không đạt được; sự thành đạt hoặc thiếu thành đạt này, và sự trung kiên hoặc sự phản bội (disloyalties) của những người phụng sự cùng hội với họ, tạo ra sự kích động và sự xáo trộn tình cảm, và do phản ứng mạnh mẽ này, các hình-tư-tưởng của họ, được tạo ra một cách rất cần mẫn và đầy sùng tín, trở thành vô ích. “Kỹ năng trong hành động” của họ bị mất đi, bởi vì họ bị ràng buộc vào kết quả mong muốn và vì thế mà công sức của họ không tạo ra gì cả.

Có nhiều “tình trạng của nước khác mà mỗi người tìm đạothể bổ khuyết cho chính mình. Tuy nhiên có một điều nữa mà Tôi muốn đề cập đến. Thể tình cảm của đệ tử, vốn phải nuôi nấng và chăm bón cho hình-tư-tưởng còn ấu trĩ (với hạt nhân trí tuệ của nó), là một phần tất yếu của hình thể tình cảm của hành tinh, và do đó rung động hòa hợp với hình thể đó. Điều này cũng nên được xem xét một cách cẩn thận, vì thể tình cảm được đưa vào một trạng thái hoạt động theo như tình trạng cảm dục chung, và phải được vận dụng một cách khôn ngoan từ góc độ này.
Vào lúc này có ba tính chất chiếm ưu thế trong hình thể cảm dục của hành tinh sự sợ hãi, sự trông mong và một sự ham muốn tột độ (trong gia đình nhân loại) đối với việc sở hữu vật chất. Hãy lưu ý thuật ngữ “tột độ” (“climaxing”). Sự tổng kết ham muốn của con người đối với hạnh phúc vật chất đã được hoàn thành, và đỉnh cao của sự ham muốn đó đã được vượt qua; như thế nhân loại đã thành tựu và đã vượt qua phần lớn. Nhưng sự nhịp nhàng của các thời kỳ thì bền vững. Ba tính chất này phải được người tìm đạo hiểu rõ và không cần để ý tới khi y tìm cách phụng sự từ các phân cảnh trí tuệ. Ở chỗ của sự sợ hãi, y phải thay thế bằng sự yên tĩnh vốn là đặc quyền của những người luôn luôn sống trong Ánh Sáng Vĩnh Hằng; ở nơi mà sự triển vọng không chắc chắn, y phải thay thế bằng sự quả quyết điềm tĩnh nhưng tích cực về mục tiêu cuối cùng vốn xuất phát từ một tầm nhìn rộng rãi về Thiên Cơ, và sự giao tiếp của y với các đệ tử khác, và sau đó với Chân Sư. Sự ham muốn sở hữu vật chất phải được thay thế bằng sự khao khát (aspiration) đối với các sở hữu vốn là niềm vui của linh hồn – đó là minh triết, bác ái và năng lực phụng sự. Sự yên tĩnh, sự quả quyết và khát vọng chân chính! Ba từ này, khi được hiểu rõ và được trải nghiệm trong đời sống mỗi ngày, sẽ mang lại “tình trạng của nước” đúng đắn, vốn sẽ đảm bảo sự tồn tại của mỗi hình-tư-tưởng, được tạo ra chính đáng trong khi tham thiền bởi người đang hoạt động như một linh hồn.

2. Sự AnToàn của Người Sáng Tạo Như Thế(LVHLT, 163)

Ở đây, có thể nói với sự nhấn mạnh, mặc dù đó là một chuyện hiển nhiên được công nhận, rằng con người thường bị giết chết (theo nghĩa huyền bí và do đó theo ý nghĩa quan trọng hơn) bởi chính các hình-tư-tưởng của riêng họ. Việc tạo ra tư tưởng, qua định trí và thiền định, là một vấn đề rất đỗi nguy hiểm. Điều này phải không bao giờ được quên. Có các hình-tư-tưởng, không bị trở ngại bởi chất liệu đầy dục vọng (much desire matter), không chuyển xuống dưới, nên đầu độc con người trên các phân cảnh trí tuệ (mental levels). Chúng làm điều này theo hai cách:
1. Bằng cách phát triển quá mạnh trên cõi trí đến nỗi con người trở thành một nạn nhân cho sự việc mà y đã tạo ra. Đây là “định kiến” (“idée fixe”) của nhà tâm thần học; sự ám ảnh dẫn tới tình trạng điên rồ; đường lối tư tưởng nhất tâm cuối cùng đe dọa (terrorises) kẻ tạo ra nó.
2. Bằng cách tăng thêm quá nhanh, đến nỗi hào quang thể trí của con người trở nên giống như một đám mây dày 163 đặc mà ánh sáng của linh hồn không đi xuyên qua đó được, và tình thương của con người, các hoạt động đáng yêu, đẹp đẽ, và dễ chịu của thiên nhiên và của cuộc sống trong ba cõi thấp cũng không xuyên qua đó được. Con người bị phủ kín, bị ngạt thở bởi các hình-tư-tưởng của chính mình, và không chống nỗi với độc khí mà chính y đã tạo ra.

Hay, lại nữa, có những đường lối tư tưởng thu hút ra khỏi thể tình cảm một phản ứng có tính chất độc hại. Một đường lối tư tưởng nào đó mà một người theo đuổi có liên quan tới đạo hữu của y. Nó nuôi dưỡng lòng hận thù, ghen ghét và đố kỵ, và tác động đến cùng thành sự biểu lộ theo một cách thức đến nỗi mà nó tạo ra những hoạt động ở cõi trần, và những hoạt động này gây ra cái chết cho người tạo ra chúng. Điều này có thể đúng như trong trường hợp của tội giết người, mà trong nhiều trường hợp, là kết quả của ý định được kết tinh, hoặc nó có thể dẫn đến bệnh tật. Tư tưởng trong sạch, động cơ đúng đắn và ước vọng yêu thương, là các điều-chỉnh (correctives) thực sự của bệnh tật, và nơi nào mà sự mong muốn về các điều này (vốn tạo hứng thú cho nhiều người) được nâng lên thành cách suy nghĩ có tính xây dựng, thì sẽ có việc loại bỏ dần dần tật bệnh. Cho đến nay, mặc dù có nhiều người mong muốn, nhưng chỉ có ít người suy nghĩ như vậy. Đừng bao giờ quên rằng các Đấng Cao Cả không tìm kiếm những người chỉ có mong muốn và khát vọng. Các Ngài tìm kiếm những người biết phối hợp ước muốn của họ với sự quyết tâm học cách sử dụng thể trí của họ để trở thành những người sáng tạo, và những người sẽ làm việc một cách xây dựng hướng về những mục tiêu này.

Do đó người ta sẽ thấy tại sao, trong mọi hệ thống huấn luyện huyền linh thực sự, sự nhấn mạnh được đặt vào việc tư duy đúng đắn, ước muốn bác ái, và đời sống thanh khiết, trong sạch. Chỉ có như vậy thì công việc sáng tạo mới có thể được xúc tiến một cách an toàn, và chỉ có như vậy thì hìnhtư-tưởng mới có thể đi xuống vào thế giới khách quan, và là một tác nhân kiến tạo trên cõi hiện tồn của con người.

3. Sự nhập định kiên định (Steady Contemplation).

Bạn sẽ chú ý rằng ở đây từ ngữ thiền định” (“meditation”) không được sử dụng. Tư tưởng là một điều khác hẳn. Tiến trình thiền định, bao hàm việc sử dụng tư tưởng và kiến tạo hình thể của trí tuệ, để nó có thể được hoàn thành và được làm cho đầy đặn, và phù hợp với hình-tư tưởng của nhóm đệ tử đồng môn của vị đệ tử, và do đó đối với Thiên Cơ, tiến trình thiền định đã được hoàn thành đến hết khả năng của con người. Bây giờ y phải, một cách kiên định, chiêm nghiệm những gì mà y đã tạo ra, và cũng với sự kiên định, truyền cho nó sự sống cần thiết, để nó có thể hoàn thành chức năng của nó.

Y ngưng lý luận, ngưng suy tưởng, ngưng diễn đạt và ngưng kiến tạo trong chất trí. Y chỉ tuôn đổ sự sống của mình vào hình-tư-tưởng và gửi nó ra để tiến hành ý muốn của mình. Chỉ cần là y có thể suy ngẫm và giữ điềm tĩnh, nhờ đó sự sáng tạo của y sẽ hoàn thành ý định của y và tác động như là tác nhân (agent) của y.
Chỉ chừng nào y có thể tập trung sự chú ý của mình vào lý tưởng mà theo đó y đã tạo ra hình-tư-tưởng của mình, và có thể liên kết hình-tư-tưởng đó và lý tưởng lại với nhau trong một tầm nhìn vững chắc, chỉ khi đó hình tư tưởng đó mới phục vụ mục đích của y và thể hiện lý tưởng của y. Ở đây có ẩn cái bí mật của toàn bộ sự hợp tác thành công với Thiên-Cơ (Plan).

Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu trong chốc lát các từ “tim, cổ họng và mắt”, vì chúng có một ý nghĩa đặc biệt. Ba bộ phận này tạo thành bộ máy mà mọi đệ tử đều dùng đến trong chu kỳ thế giới đang đến rất nhanh này.

Điều hết sức thật là cho đến nay .. Chỉ có khoảng 400 đệ tử nhập môn trên thế giới vào lúc này – nghĩa là, những người nam và nữ thực sự biết họ là đệ tử, biết công việc của họ là gì và đang thực hiện công việc đó. Tuy nhiên vẫn có hàng trăm người (trong thế hệ những người trẻ tuổi hiện tại) sắp được thu nhận, và hàng ngàn người đang ở trên con đường dự bị (probationary path). Trong tất cả các nhóm nội môn thực sự, sẽ hình thành ở đó một nhóm mà trong đó một sự hiểu biết mang tính trí tuệ về cơ cấu này của tim, cổ họng và mắt sẽ được nhận thấy….. Tôi muốn kêu gọi chú ý đến những lời này, và đề nghị nghiên cứu chúng cẩn thận.

Một bộ máy trong thể thiên nhiên được sử dụng theo hai cách: Thứ nhất, việc sử dụng nó là không cố tình, và không có sự hiểu biết về việc làm thế nào, hoặc tại sao, hoặc khi nào mà bộ máy được sử dụng. Một con thú sử dụng một bộ máy, trong nhiều khía cạnh, tương tự với bộ máy mà con người sử dụng. Nó thấy, nghe và hoạt động một cách có hệ thống theo các đường lối tương tự như con người, nhưng lại thiếu sự hiểu biết về trí tuệ và sự liên kết nhân và quả, vốn là đặc trưng của giới cao trong thiên nhiên.

Một tình trạng các sự việc tương tự tồn tại trong các giai đoạn đầu của con đường đệ tử và các giai đoạn cuối cùng của con đường dự bị. Đệ tử bắt đầu ý thức các khả năng và các quyền lựctừ trước đến giờ không ở dưới sự kiểm soát sáng suốt của y. Y trải nghiệm các lóe sáng của nội nhãn thông, và của tri thức mà dường như không thể hiểu nổi và không có giá trị tức thì. Y tiếp xúc với các rung động và các hiện tượng của các lĩnh vực khác, nhưng vẫn không ý thức được tiến trình mà theo đó y đã làm như vậy, và thiếu năng lực hoặc là để làm lại, hoặc nhớ lại kinh nghiệm. Bên trong thể dĩ thái của mình, y cảm nhận các mãnh lực đang hoạt động. Đôi khi y có thể xác định vị trí của các lực đó… (các trải nghiệm thấp cần rứt bỏ mạnh mẽ-NTH).

Ở đây, Tôi muốn minh giải một cách thật rõ ràng cho tất cả những người tìm đạo chân chính và nhiệt tình rằng, trong việc đào tạo sẽ được đưa ra trong vài thập niên tới, việc khai mở nhãn thông cảm dục (astral vision) và nhĩ thông cảm dục sẽ bị ngăn chận hoàn toàn, hoặc (nếu có) thì cuối cùng sẽ phải được khắc phục. Vị đệ tử chân chính đã cố gắng để tập trung chính mình (an trụ) vào cõi trí với mục tiêu trước mắt là chuyển tâm thức của mình lên cao hơn nữa, vào ý thức rộng lớn hơn và có tính bao gồm của linh hồn.

Thứ hai, khi việc sử dụng các khí cụ chủ quan trở nên tự ý, và một người biết nó nên được sử dụng như thế nào, khi y đang dùng nó, và có thể không tiếp tục dùng nó hoặc lại tiếp tục dùng nó tùy thích, khi đó toàn bộ tình trạng của y thay đổi và sự hữu dụng của y tăng lên. Nhờ việc sử dụng thể trí, nhân loại đã bắt đầu ý thức các mục tiêu và cách sử dụng bộ máy vật chất (xác thân). Bây giờ nhờ việc sử dụng một quan năng còn cao hơn nữa, vốn là một đặc tính của linh hồn, con người đi vào kiểm soát có chủ định và sáng suốt khí cụ của mình, và học cách hiểu được các mục đích mà vì đó nó tồn tại.

Quan năng cao này chính là trực giác (intuition).

Liệu Tôi có thể thêm với sự nhấn mạnh rằng chỉ khi người nào bắt đầu có trực giác, y mới trở nên hữu dụng trong một nhóm của Chân Sư, và Tôi khuyến nghị với tất cả những người tìm đạo rằng, họ phải cẩn thận nghiên cứu ý nghĩa và sự quan trọng của trực giác. Khi nó đang bắt đầu hoạt động, bấy giờ đệ tử có thể chuyển từ giai đoạn dự bị sang giai đoạn nhập môn trong một nhóm của Chân Sư.

Ở đây, bạn có thể hỏi làm thế nào mà người đệ tử dự bị (probationer) có thể nhận biết, hoặc xác định điều này.

Một số lượng lớn việc đào tạo được dành cho một đệ tử dự bị, mà y thực sự không nhận biết nó một cách hữu thức. Các xu hướng lỗi lầm được chỉ ra cho y khi y tìm cách, với sự chân thành, tự huấn luyện mình cho việc phụng sự, và việc phân tích động cơ khi được cam kết một cách trung thực, dùng một cách không ngờ để nâng vị đệ tử tương lai ra khỏi cõi giới cảm dục hay tình cảm, đi vào cõi giới trí tuệ. Chính ở nơi cõi trí mà các Chân Sư (Masters) được giao tiếp lần đầu tiên, và phải tìm kiếm các Ngài ở nơi đó.

Nhưng đã đến lúc, khi Ánh Sáng (Light) trong đầu không chỉ hiện hữu, mà còn có thể được sử dụng phần nào. Nghiệp quả (karma) của người tìm đạo là thế, để y trở nên có thể, qua nỗ lực được áp dụng một cách bền bĩ, vận dụng cuộc sống của y theo cách mà y không những chỉ có thể thi hành nghiệp quả của mình và thực hiện các nghĩa vụ của mình, mà còn có đủ sự kiên định để cho phép y xử lý các vấn đề và các nghĩa vụ ở cương vị đệ tử nữa. Việc y phụng sự những người khác được tiến hành với động cơ đúng đắn, và đang bắt đầu có giá trị và làm cho sức mạnh của nó được cảm nhận, và y đang mất đi việc nhìn thấy các lợi ích riêng của mình trong các lợi ích của những người khác. Khi điều này xảy ra, một số biến cố huyền bí (esoteric happenings) diễn ra.

Chân Sư bàn bạc với một số các đệ tử cao cấp của Ngài về việc nên làm (advisability) trong việc tiếp nhận người tìm đạo vào trong hào quang của nhóm, và trong việc phối hợp rung động của người này với rung động của nhóm. Sau đó, khi đạt được sự nhất trí, trong khoảng hai năm, một đệ tử thâm niên hoạt động như người trung gian giữa Chân Sư với người tìm đạo mới được chấp nhận.

Suốt thời gian này, người tìm đạo vẫn không biết về những gì đã xảy ra và không biết đến các tiếp xúc bên trong của y. Tuy nhiên, y nhận thấy ba việc trong y:

Hoạt động trí tuệ gia tăng. Lúc đầu, điều này sẽ mang lại cho y nhiều xáo trộn, và y sẽ cảm thấy như thể y đang mất kiểm soát thể trí thay vì có được nó, nhưng điều này chỉ là một tình trạng tạm thời và dần dần y sẽ nắm quyền điều khiển.
Việc đáp ứng với các ý tưởng tăng lên và sự gia tăng năng lực đối với tầm nhìn về kế hoạch của Thánh Đoàn. Trong các giai đoạn đầu, điều này sẽ làm cho y thành cuồng tín đến một mức độ nào đó. Y sẽ liên tục bị xúc động với những lý tưởng mới, học thuyết mới, các cách sống mới, các ước mơ mới để cải thiện nhân loại. Y sẽ bàn bạc hết phong trào này đến phong trào khác, vì chúng dường như có triển vọng cho thiên niên kỷ tới. Nhưng sau một thời gian, y lấy lại thăng bằng của mình, và mục đích nắm quyền kiểm soát đời sống của y. Y làm công việc riêng của mình, và mang đến sự đóng góp của mình vào hoạt động chung, với hết khả năng của mình.
Tính nhạy cảm tâm linh tăng lên. Tính chất này là một dấu hiệu tăng trưởng mà đồng thời còn là một sự thử thách. Y thường hay bị lừa gạt bởi những sự quyến rũ (allurements) của các quyền năng tâm linh; y sẽ bị cám dỗ làm lệch hướng các nỗ lực của y ra khỏi công cuộc phụng sự chuyên biệt đối với nhân loại, trở thành việc khai thác các quyền năng tâm linh, và sử dụng chúng cho việc khẳng định bản ngã.

+ Đệ tử Tiếp xức với Chân Sư (LVHLT, 171): Xem trong sách khi đã xứng đáng là đệ tử

* TIM, CỔ HỌNG VÀ MẮT (LVHLT, 189)
Hiểu biết về ý nghĩa thực sự của tim, cổ họng và mắt. Do đó, bây giờ chúng ta sẽ xem xét:
1. Bí huyệt tim, bí huyệt cổ họng, và bí huyệt giữa hai mắt.
2. Việc khơi hoạt và kết hợp các bí huyệt đó.
3. Chúng sẽ được dùng vào những việc gì trong chu kỳ thế giới sắp tới.
Chủ đề này cực kỳ quan trọng đối với người tìm đạo hiện đại,cơ cấu của tim, cổ họng và mắt − tạo thành một phần của cấu trúc bên trong mà y phải học cách sử dụng − phải được chủ trị và được vận dụng có ý thức bởi người tìm đạo, trước khi có thể có bất kỳ hoạt động sáng tạo thực sự nào. Khi Tôi sử dụng từ ngữ “hoạt động sáng tạo”, Tôi đang nói về phương diện huyền bí, chứ Tôi không đề cập đến hoạt động ngoại môn ( đáng giá được các nghệ sĩ của thế gian thực hiện ).
Tôi đang giả định nơi đạo sinh có một kiến thức cơ bản về thể sinh lực và về các trung-tâm-lực của thể đó, và Tôi giả sử rằng bảy trung tâm lực hay các hoa sen, về mặt lý thuyết có một vị trí trong trí tưởng tượng của y. Tôi dùng từ ngữ trí tưởng tượng (imagination) với ý định có chủ đích, vì cho đến khi có được kiến thức và tầm nhìn rõ ràng, việc giả định mang tính tưởng tượng là một yếu tố có uy lực lớn trong việc đưa đến hoạt động của các trung tâm lực.
Để minh giải, chúng ta hãy liệt kê các hoa sen này với số cánh hoa và vị trí của chúng. Màu sắc thì không quan trọng, vì nhiều điều đã được đưa ra thì không đúng hoặc có tính chất của một màn che, và bất luận thế nào, màu sắc nội môn khác xa với màu công truyền.
1. Đáy của xương sống ………. 4 cánh hoa
2. Bí huyệt xương cùng ……… 6 cánh hoa
3. Bí huyệt đan điền …………… 10 cánh hoa
4. Bí huyệt tim …………………… 12 cánh hoa
5. Bí huyệt cổ họng ……………. 16 cánh hoa
6. Bí huyệt giữa lông mày ….. 2 cánh hoa
7. Bí huyệt đầu ………………….. 1.000 cánh hoa
Thật dễ dàng để nói chung chung. Thật khó khăn để nhận thức rõ. Thật là đơn giản để nắm bắt các dữ liệu trí tuệ nâng cao kiến thức liên quan đến các trung-tâm lực; điều khó khăn nhất là đưa đến sự tái sắp xếp các thần lực đang tuôn qua các xoáy lực này, và học cách hoạt động có ý thức thông qua các trung-tâm-lực cao, đang phụ thuộc vào những trung tâm lực thấp. Điều này cũng phải được thực hiện mà không chú trọng vào khía cạnh hình tướng, như trường hợp trong nhiều thực hành được dùng để truyền sinh lực vào các trung tâm lực. Hai sự kiện quan trọng là:
1. Ba trung tâm lực dưới cơ hoành,
a/ Bí huyệt đáy xương sống,
b/ Bí huyệt xương cùng,
c/ Bí huyệt đan điền,
mà hiện nay là những bí huyệt có uy lực nhất trong nhân loại bậc trung, và là những bí huyệt “linh hoạt” nhất, cần được tái tổ chức, tái định hướng, và được đưa từ trạng thái tích cực sang trạng thái tiêu cực.
2. Tương tự, bốn trung tâm trên cơ hoành,
a/ Bí huyệt tim,
b/ Bí huyệt cổ họng,
c/ Bí huyệt giữa hai mày,
d/ Bí huyệt đầu,
phải được đánh thức và được đưa từ trạng thái tiêu cực sang trạng thái tích cực.

1- Điều này phải được mang lại theo hai cách.

a. Đầu tiên, bằng việc chuyển năng lượng tích cực của các bí huyệt thấp thành năng lượng tích cực của bí huyệt cao hơn, và

b. thứ hai, bằng việc đánh thức bí huyệt đầu do sự thể hiện hoạt động của ý chí.

– Hiệu quả đầu tiên được tạo ra bằng việc xây dựng tính-cách và bằng sự thanh lọc các thể, khi được linh hồn sử dụng trong ba cõi thấp.

– Hiệu quả thứ hai là kết quả của việc thiền định và sự phát triển mục đích có tổ chức, do ý chí áp đặt lên sự sống hằng ngày.

(Xây dựng tính cách, lối sống trong sạch, các phản ứng tình cảm có kiểm soát, và tư duy đúng đắn là các lời lẽ vô vị (platitudes) của tất cả các hệ thống tôn giáo, và đã bị mất tác dụng (weight) do việc chúng ta quá quen thuộc với chúng).

Nhớ rằng khi chúng ta sống một cách thanh khiết và đúng đắn, thực ra chúng ta đích thực đang hoạt động với các thần lực, đang chinh phục các năng lượng theo các nhu cầu của chúng ta, đang làm cho các sự sống tinh-hoa-chất phụ thuộc vào các nhu cầu của bản thể tinh thần (spiritual being), và đang đưa vào hoạt động một cơ cấu và một cấu trúc quan trọng, mà cho đến nay chỉ tiềm tàng và thụ động. Tuy nhiên, nó vẫn là một thực tại, để rồi khi các năng lượng tiềm tàng ở đáy cột sống được đưa lên đầu và được mang (xuyên qua đan-điền, tức là nơi thu thập và phân phối năng lượng, và hành tủy) đến bí huyệt giữa hai lông mày, lúc bấy giờ phàm-ngã, tức khía cạnh vật chất, đạt đến địa vị thần thánh của nó, và Trinh Nữ Mary (Virgin Mary) – trong ý thứcnhân, vốn là một thực thể tương đương hữu hạn của một Thực Tại vô hạn − được “đưa đến tận Thiên Đường” để ngồi ở đó, bên cạnh con trai của bà, tức Đấng Christ, hay linh hồn.
Khi các năng lượng của bí huyệt xương cùng, từ trước đến nay được tập trung vào hoạt động sáng tạo vật chất và sinh sản, và vì thế là nguồn gốc của đời sống tính dụccõi trần và mối quan tâm vật chất, được thăng hoa, được tái định hướng và được đưa đến bí huyệt cổ họng, bấy giờ người tìm đạo trở thành một lực sáng tạo hữu thức trong các cõi giới cao; y tiến vào bên trong bức màn, và bắt đầu tạo tác các mô hình của những sự vật vốn cuối cùng sẽ mang lại các cõi trời mới và cõi trần thế mới.

Khi các năng lượng của đan điền – các biểu hiện từ trước đến giờ của bản chất dục vọng mạnh mẽ, nuôi dưỡng đời sống tình cảm của phàm-ngã – cũng được chuyển hóa và được tái định hướng, sau đó chúng được đưa đến bí huyệt tim, và dẫn đến, như một kết quả, một nhận thức về ý thức tập thể, về lòng bác ái tập thể và mục đích tập thể, vốn làm cho người tìm đạo thành một người phụng sự nhân loại và một người cộng tác thích hợp của các vị Huynh-Trưởng của nhân loại.
Khi ba sự chuyển di này đã được hoàn thành (consummated), sau đó là một hoạt động diễn ra (transpires) trong bí huyệt đầu, tức yếu tố chi phối cuối cùng, và bằng một tác động ý chí của linh hồn cai quản bên trong, một số diễn biến xảy ra mà chúng ta có thể xem xét sau này trong các nghiên cứu của chúng ta.(LVHLT, 192)

2. Sự kiện thứ hai cần ghi nhớ là khi các thay đổi và các việc tái-định-hướng này diễn ra, đệ-tử bắt đầu thức tỉnh, về mặt tâm lý, các trạng thái tâm thức mới, các trạng thái hiện tồn mới và các trạng thái bản thể mới.

Thể trí diễn giải, tổ chức, hiểu biết (the interpreting, organising, understanding mind) không thể thể hiện vai trò của nó. Nơi nào thiếu sự hiểu biết và năng lực trí tuệ, thì nơi đó có nguy cơ hiểu sai, cả tin và diễn giải sai về những hiện tượng của các trạng thái hiện tồn khác nhau. Một ý thức về các giá trị sẽ thiếu, và người tìm đạo sẽ đánh giá quá cao những điều không thiết yếu, và không hiểu rõ giá trị của các thực tại tinh thần.
Năng lượngthể tuôn đổ vào các trung tâm lực trong những trường hợp này, nhưng vì không có trí thông minh định hướng, nó sẽ chạy lung tung và lúc đó chúng ta có những trường hợp đáng buồn, vốn rải rác trên con đường của nỗ lực huyền bí, và làm cho hoạt động của Thánh Đoàn (the Lodge) mang tai tiếng (Các trường hợp về những phàm-ngã được cường điệu quá mức, về những người mộ đạo mê tín, về các tín đồ cả tin của các nhà lãnh đạo, về các lý tưởng gia cuồng tín thiếu cân bằng, và về những người tâm trí lệch lạc vốn nhận càn vào họ các quyền năng không phải là của họ. Những người nam và nữ trở nên bị ảnh hưởng bởi cảm-dục tính (astralism) và lạc lối trong thung lũng của ảo tưởng, tự xem họ dị biệt với những người khác, tự đặt họ lên một bệ cao xa cách với nhân loại bậc trung. Họ cố tâm sa vào tội chia rẻ. Thêm vào danh mục trên là các trường hợp bại hoại tính dục, gây ra bởi sự kích thích quá độ vào bí huyệt xương cùng, các trường hợp của chứng loạn thần kinh chức năng và chứng quá nhạy cảm và chứng đa cảm, gây ra bởi sự truyền sinh-khí (vitalisation) sớm của bí huyệt đan điền, và cuối cùng là các trường hợp điên loạn (insanity) gây ra bởi sự kích thích quá độ vào các tế bào não qua việc thiền định thiếu khôn ngoan, sự việc sẽ trở nên ngày càng rõ ràng là tại sao việc tiến hành chậm rãi và việc phát triển các tiến-trình trí-tuệ cũng như tính chất tinh thần được cho là cần thiết).(LVHLT, 194)

+ NGƯỜI TÌM ĐẠO CHỈ ĐƯỢC LUYỆN TẬP TRÊN BA TRUNG TẤM LỰC CHÍNH (LVHLT, 195)

Người tìm đạo không thể hoạt động với, và vận dụng tất cả bảy loại năng lượng này một cách sáng suốt trong các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ-Tử. Việc nhấn mạnh, nhằm mục đích luyện tập, chỉ được đặt trên ba trong số bảy loại. Đó là:
1. Năng lượng của Ý chí, sức mạnh hay quyền năng, qua trung gian của bí-huyệt đầu. Đây là năng lượng của con người tinh thần (spiritual man), đến trực tiếp từ Monad (Chân Thần), xuyên qua linh hồn. Tuy nhiên, mãi đến cuộc điểm đạo thứ ba, tất cả những gì mà đệ-tử cần hiểu là khía cạnh ý chí của linh hồn sẽ kiểm soát phàm-ngã, xuyên qua thể trí đến bí huyệt đầu. Khi xảy ra trường hợp này thì hoa sen ngàn cánh bắt đầu hoạt động. Tuyến của dòng thần lực này là:
Monad
Atma. Ý chí tinh thần.
Vòng các cánh hoa bên trong của hoa sen Chân Ngã, các cánh hoa ý chí.
Thể trí
Bí huyệt đầu trong thể dĩ-thái. Hệ thần kinh và não bộ.
2. Năng lượng Bác ÁiMinh Triết, qua trung gian của bí huyệt tim. Khi được khơi hoạt, bí huyệt này dẫn đến việc mở rộng tâm thức, điều này khởi đầu cho một người vào cuộc sống của nhóm y. Y mất đi ý thức chia rẻ, và cuối cùng hòa nhập vào ánh sáng nhận thức đầy đủ – một sự nhận thức về sự hiệp nhất với Thượng Đế nội tại của riêng mình, với tất cả nhân loại, với mọi linh hồn trong mọi hình thức của thiên nhiên, và vì thế với Đại Hồn (Oversoul). Dòng thần lực này cũng đến từ Chân Thần, xuyên qua linh hồn, và đường đi của nó là như sau:
Monad
Bồ Đề (Buddhi). Bác ái tinh thần. Trực giác.
Vòng cánh hoa thứ hai trong hoa sen chân ngã, những cánh hoa bác ái.
Thể cảm dục.
Bí huyệt tim.
Dòng máu.
Nơi người ít tiến hóa, dòng thần lực này chỉ đi xuyên qua bí huyệt tim, thẳng đến đan điền và sử dụng hai khía cạnh là sự sống sinh động và tính chất linh hồn, một khía cạnh truyền sinh lực cho dòng máu, và khía cạnh kia kích hoạt bí huyệt đan điền. Thần lực này sau đó trở thành yếu tố chủ đạo trong đời sống năng lượng của con người, và sức mạnh mà qua đó bản chất dục vọng của y tự thể hiện, cho đến khi người tìm đạo đem đến sự chuyển hóa cần thiết và sự tái định hướng bản chất dục vọng tình cảm của y. Khi đó, bí huyệt tim thức tỉnh đi vào hoạt động và sự sống của bí huyệt đan điền trở nên bị phụ thuộc vào sự sống của bí huyệt tim. Điều này được mang lại bởi sự phát triển các mối quan tâm đến tập thể, bởi việc trau dồi tính bao gồm và việc mất dần sự quan tâm đến phàm-ngã, đến những sự việc có tính chia rẻ và ích kỷ.
3. Năng lượng của trí tuệ linh hoạt, hay năng lượng làm sinh động khía cạnh hình tướng, và làm cho các hình tướng phù hợp với các mục đích chủ quan của trí thông tuệ đang chủ trì – Thượng Đế hoặc con người, loài người hoặc thần thánh. Năng lượng này cũng đi từ trạng thái thứ ba của Monad, và đường lối tiếp xúc của nó là:
Monad.
Manas. Sự thông tuệ tinh thần. Thượng trí.
Vòng thứ ba hay vòng các cánh hoa ngoài cùng trong hoa sen Chân Ngã, các cánh hoa tri thức.
Thể dĩ thái nói chung, vì thể này thâm nhập khắp nhục thân.
Bí huyệt cổ họng.
Các tế bào của thể.

Nơi người ít tiến hóa, như trong trường hợp của trạng thái thứ hai và sự khai mở của nó, năng lượng chỉ đi qua bí huyệt cổ họng và đi thẳng đến bí huyệt xương cùng, và do đó đưa vào hoạt động các tiến trình sinh sản và các khả năng sáng tạo, được sử dụng trong việc sinh sản và đời sống tính dục của nhân loại.
Đây là một phác thảo đại cương và tổng quát của ba dòng thần-lực chính hay là năng-lượng thiêng liêng và đường đi của chúng.
Mối liên hệ của bí huyệt đầu với bí huyệt đáy cột sống, nơi có luồng hỏa đang ngủ yên, sẽ không được xem xét ở đây, cũng như chức năng của bí huyệt đan-điền với cương vị một nơi thu nhận và phân phối các năng lượng thấp sẽ không được đề cập đến. Tôi rất mong muốn các đạo sinh chỉ đơn giản nắm bắt ý tưởng tổng quát và bộ khung của giáo lý.
Mỗi người theo thời gian, tiến hành con đường trở về của y trên Con Đường Hoàn Nguyên theo một trong ba cung chính. Cuối cùng, mọi người đều phải thể hiện khả năng sáng tạo thông minh, được làm sinh động bởi lòng bác ái thiêng liêng, và đưa Ý Chí vào hoạt động theo đúng chức năng, khi ý chí đó thể hiện Thiên ÝThiên Cơ.

Trung-tâm-lực đầu tiên mà người tìm đạo muốn khơi hoạt một cách có ý thức, và tập trung vào đó trong các giai đoạn đầu mới tu hành của mình, là bí huyệt tim. Y phải học để có tập-thể-thức, để nhạy cảm với những lý tưởng tập thể, và có tính bao gồm trong các kế hoạch và các quan niệm của mình. Y phải học cách yêu thương có tính cách chung (collectively) và một cách thanh khiết, chứ không bị thúc đẩy bởi sự thu hút của phàm-ngã, và động cơ được tưởng thưởng. Nếu không có sự thức tỉnh này nơi bí huyệt tim, y không thể được phó thác để vận dụng các quyền năng sáng tạo của bí huyệt cổ họng, vì các quyền năng này sẽ bị lệ thuộc vào việc tự đề cao, và đủ loại tham vọng.

+ VIỆC KHƠI HOẠT CÁC BÍ HUYỆT (LVHLT, 201)

Sự khơi hoạt và phối kết này có thể được xảy ra như thế nào? Các bước nào phải được thực hiện để tạo ra việc truyền sinh khí (vitalisation) và hoạt động tổng hợp cuối cùng này của ba bí huyệt? Đối mặt với những câu hỏi này, vị huấn sư chân chính nhận thấy một việc khó khăn. Thật không phải dễ dàng để minh giải các hoạt động bí truyền và đi song song vốn là kết quả của việc kiến tạo cá tính. Vì vậy, thường thường người tìm đạo rất nóng lòng để được kể một điều mới nào đó, và khi y được kể lại một chân lý cũ nào đó – quá cũ và quá quen thuộc đến nỗi nó không gợi lên một đáp ứng đáng ghi nhận nào – y cảm thấy rằng vị huấn sư đã lơ là y và vì thế không chịu nổi với cảm giác không hiệu quả (futility) và sự ngã lòng. Tuy nhiên, điều này phải được làm cho thỏa mãn và những câu hỏi phải được giải đáp. Vì thế, Tôi sẽ nói rõ các yêu cầu cần thiết một cách càng súc tích càng tốt, đưa chúng ra theo thứ tự liên tiếp và dựa trên mức độ quan trọng của chúng theo quan điểm của người tìm đạo bậc trung. Vậy chúng ta hãy liệt kê chúng dưới hình thức bảng biểu, và sẽ đề cập vắn tắt đến mỗi điểm sau đó.

1. Việc kiến tạo cá tính, điều kiện cần thiết trước tiên và thiết yếu.
2. Động cơ đúng đắn.
3. Việc phụng sự (service).
4. Việc thiền định.
5. Một nghiên cứu chuyên môn về khoa học các bí huyệt.
6. Các bài tập thở.
7. Việc nghiên cứu về kỹ thuật của Ý- Chí (the Will).
8. Việc phát triển năng lực để sử dụng thời gian.
9. Việc khơi hoạt luồng hỏa Kundalini.
+ Điểm thứ 9 và cuối cùng này sẽ không được xem xét ở giai đoạn đào tạo này của chúng ta. Lý do thật rõ ràng. Hầu hết người tìm đạo đang ở giai đoạn của các điểm thứ ba và thứ tư; và chỉ mới bắt đầu hoạt động với các điểm thứ năm và thứ sáu. Chúng ta hãy đề cập vắn tắt đến mỗi giai đoạn cần thiết này, và Tôi yêu cầu các bạn cần phải có nhận thức ở một mức độ nào đó về trách nhiệm được đòi hỏi do sự hiểu biết này. Bạn có nhận thức sự kiện là nếu bạn đang vận dụng đầy đủ mỗi mẩu thông tin được đưa ra trong thời gian luyện tập, làm cho nó thành một thực tế trong kinh nghiệm của bạn, và trong đời sống hằng ngày của bạn, bạn sống bằng giáo huấn được dạy một cách vững vàng, bạn sẽ đứng ngay trước Cổng Điểm Đạo hay chăng? Bạn có nhận ra rằng một chân lý phải được thể hiện trong kết cấu của cuộc sống hằng ngày trước khi một chân lý mới có thể được truyền đạt một cách an toàn?

1. Kiến Tạo Cá Tính (LVHLT, 202):

– Mỗi người chúng ta bước vào cuộc đời với một trang bị nhất định – là sản phẩm của các kiếp sống của nỗ lực và kinh nghiệm đã qua. Trang bị đó có trong nó một số khiếm khuyết hoặc thiếu sót, và hiếm khi có tính chất hài hòa.

1- Một người thì quá trí tuệ. Người khác thì quá tâm linh.

2- Người thứ ba chủ yếu thiên về vật chất, và còn người khác nữa lại quá thần bí.

3- Một người thì nhạy cảm, dễ bị kích thích, và dễ bị tác động. Người khác thì ngược lại với tất cả những tính chất này.

4- Một người thì tập trung vào bản chất thú tính của mình, hoặc là quá thiên về vật chất trong quan điểm về cuộc sống của mình, trong khi người khác lại biết nhìn xa trông rộng và thoát khỏi các tội lỗi của xác thịt.

– Các điểm bất đồng giữa những con người thì vô số, nhưng trong mỗi kiếp sống có một xu hướng nổi bật mà tất cả các năng lượng của bản thể y đều xoay về đó.

thể y bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các mãnh lực vật chất và tất nhiên sống đời sống của một con vật. Hoặc là y bị ảnh hưởng bởi năng lượng cảm dục và sống một cuộc sống tình cảm và tâm linh một cách mãnh liệt (potently). Có lẽ − giống như rất nhiều người – y bị ảnh hưởng bởi ba loại năng lượng, vật chất, tình cảm, và một dòng năng lượng linh hồn không thường xuyên.

Điểm cần ghi nhớ là các thể mà trong đó chúng ta, với tư cách linh hồn, đang hoạt động, cấu thành chủ yếu là các thể năng lượng. Chúng được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng, các nguyên-tử ở trong một trạng thái tuôn chảy và chuyển động liên tục, và tìm chỗ của chúng trong một môi trường có bản chất tương tự. Hoạt động như hạt nhân tích cực trong các thể năng lượng này, và vào lúc này, tương đối tĩnh tại trong phần lớn các trường hợp, là linh hồn. Từ trước đến nay, linh hồn ít gây sức ép lên các thể thấp (sheaths, các lớp vỏ) của nó, và tự đồng hóa bản thân nó với chúng, do đó tạm thời làm mất hiệu quả sự sống nội tại riêng của nó.
Tuy nhiên, sẽ tới ngày mà linh hồn thức tỉnh với nhu cầu phải chi phối tình hình và phải khẳng định uy quyền của chính nó. Khi đó, con người (lúc đầu thì thỉnh thoảng) đánh giá lại tình hình. Y phải khám phá trước tiên loại năng lượng nào nổi trội hơn, và là lực thúc đẩy trong kinh nghiệm hằng ngày của mình. Khi đã phát hiện ra điều này, y bắt đầu tổ chức lại, định hướng lại và xây dựng lại các thể của mình. Toàn bộ phần giảng dạy này có thể được tóm gọn trong hai từ ngữ: Tật xấu (Vice) và Đức Hạnh (Virtue).

a- Tật xấunăng lượng của các lớp vỏ (thể thấp) riêng biệt hoặc được kết hợp trong phàm-ngã, khi nó kiểm soát các hoạt động của sự sống và làm cho linh hồn phụ thuộc vào các lớp vỏ, và vào các xung lực và các xu hướng của phàm-ngã.
b- Đức hạnh là việc kêu gọi sự giúp đỡ của các năng lượng mới và của một nhịp điệu rung động mới, để cho linh hồn trở thành yếu tố kiểm soát tích cực, và các mãnh lực của linh hồn thay thế các mãnh lực của các thể thấp. Tiến trình này là tiến trình của việc kiến tạo tính cách. Hãy để Tôi minh họa! Một người là nạn nhân của một tính khí dễ cáu kỉnh và hay gắt gỏng. Chúng ta nói với y rằng anh ta cần phải bình tĩnh và thanh thản, và trau dồi hạnh dứt bỏ để nhờ thế đạt được sự tự kiểm soát. Chúng tôi dạy cho anh ta rằng thay vì có tính tình cáu gắt, nên có sự dịu dàng và bình tĩnh. Điều này nghe có vẻ vô vị và rất đáng chán. Tuy nhiên những gì thực sự đang được nói chính là : ở chỗ của bản chất hiếu động vị kỷ dễ xúc động, và sự hoạt động của bí huyệt đan-điền (mang theo các mãnh lực mạnh mẽ của cõi cảm dục), nên áp đặt ở đó nhịp điệu điềm tĩnh vô tư và hòa hợp của linh hồn, tức Chân Ngã. Công việc áp đặt rung động cao lên trên rung động thấp này là việc kiến tạo tính cách, điều kiện tiên quyết đầu tiên trên Con Đường Dự Bị. Khi đọc mục này đạo sinh nhiệt tâm có thể bắt đầu tổng kết các tài sản về năng lượng của mình; y có thể lập bảng kê các lực mà y cảm thấy chi phối cuộc sống của mình, do đó đi đến một sự hiểu biết hợp lý và trung thực về các lực đang cần được hạ thấp xuống, và những lực cần được tăng cường. Sau đó, trong ánh sáng của chân tri thức, y hãy tiến tới trên con đường định mệnh của y.

5. Việc nghiên cứu về các bí huyệt (LVHLT. 206).

Bây giờ chúng ta đang bắt đầu việc nghiên cứu này. Đó là một cuộc nghiên cứu mà cho đến nay còn trong tình trạng ấu trĩ ở Phương Tây, và ít được áp dụng ở Phương Đông. Cách tiếp cận của chúng ta sẽ có phần nào mới mẻ, vì mặc dù chúng ta sẽ làm quen với các tên gọi, các vị trí và các mối liên quan của các bí huyệt, chúng ta sẽ không thực hành thiền định trên các bí huyệt này. Cuối cùng chúng ta sẽ đạt đến một sự nhận thức sâu sắc về sự rung động của chúng, về sắc thái (tone) và các màu sắc của chúng, và về các ý nghĩa (significances) chiêm tinh học. Chúng ta sẽ không làm việc với các bí huyệt ở phần dưới cột sống, cũng không nhắm vào việc sử dụng chúng một cách hữu thức như người có nhãn-thông và nhĩ-thông đang làm. Tất cả công việcđạo sinh thực hiện phải được tiến hành hoàn toàn ở trong đầu và từ đầu (in the head and from the head). Ở đó là trung tâm của Ý-Chí (Will), hay trạng thái Tinh Thần, đang tác động qua linh hồn. Nơi đó cũng là sự biểu lộ tổng hợp của phàm-ngã, và trong sự hiểu biết về mối liên quan của hai bí huyệt đầu và sự tương tác lẫn nhau của chúng sẽ dần dần đi đến sự thống trị của linh hồn đối với phàm-ngã. Điều này sẽ dẫn đến hoạt động tất nhiên và được tác động tiếp theo sau của năm bí huyệt khác. Hoạt động trong năm bí huyệt này cuối cùng cũng sẽ trở nên tự động như sự vận hành hiện tại của tim và phổi trong thể vật chất.
Đấng Thông Tuệ đang chủ trì, tức Chân Ngã, ”ngự trên ngai giữa hai lông mày”được hướng dẫn bởi Ánh Sáng trong đầu, sẽ nhận ra các quan tâm của linh hồn, và cũng tỉnh táo như “Ngã thức” của người bình thường còn tập trung vào tự ngã. Bằng sự nhịp nhàng của sự sống thiêng liêng của mình, và bằng sự hợp tác có ý thức của y với Thiên Cơ, và hoạt động qua việc sử dụng Ý Chí (Will), đệ-tử đang trong luân hồi phải hoạt động với tư cách là tác nhân của linh hồn mình trong ba cõi thấp.

6. Các bài tập thở (LVHLT, 207).

Dần dần khi sự tiến bộ được thực hiện, giáo huấn cần thiết sẽ được truyền đạt. Tuy nhiên, hãy để Tôi lưu ý rằng không một bài tập thở nào có thể được dùng một cách an toàn mà không có nỗ lực áp đặt nhịp điệu lên cuộc sống mỗi ngày. Hai hoạt động phải đi đôi với nhau.
Hiệu quả của các bài tập thở rất đa dạng:
a/ Có một hiệu quả thêm oxy vào. Dòng máu được thanh lọc và áp lực được giảm hạ. Một sự tượng trưng ẩn dưới việc này: − vì giống như máu được thêm oxy, thì cũng thế, sự sống của con người trong ba cõi thấp được thấm nhuần bởi năng lượng tinh thần.
b/ Có sự áp đặt một nhịp điệu đặc biệt, được gây ra do sự giới hạn về khoảng cách và thời gian đặc biệt của các hơi thởhít vào, giữ lại và thở ra – và nhịp điệu này sẽ thay đổi tùy theo các số đếm.
c/ Có một hiệu quả tinh vi của prana (vốn yếu tố chủ quan nằm bên dưới không khí hít vàothở ra) ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến thể prana, tức là thể sinh lực hoặc thể dĩ thái. Đạo sinh nên nhớ rằng các hiệu ứng tinh anh vốn mạnh mẽ hơn là các hiệu ứng vật chất. Chúng tạo ra các kết quả theo 2 hướng, trên thể vật chất và trên thể dĩ thái. Toàn bộ thể sinh lực mang một nhịp điệu riêng biệt tùy theo các bài tập thở. Nhịp điệu này được giữ vững trong một thời gian dài sẽ có một hiệu ứng phá vỡ hoặc gắn kết trên thể xác, và làm suy nhược (devitalise) hoặc đem lại sinh khí (vitalise) cho thể dĩ thái một cách tương ứng.
d/ Có tác dụng trên các bí huyệt, vốn có hiệu quả nhất và vốn đi theo xu hướng suy tưởng của người tìm đạo. Ví dụ, nếu một người nghĩ đến huyệt đan điền, thì bí huyệt đó tất nhiên sẽ được truyền sinh lựcbản chất cảm xúc của y sẽ được tăng cường. Vì vậy điều cần cho các đạo sinhgiữ việc thiền của họ ổn định trong đầu và do đó đánh thức bí huyệt đầu.
Mong rằng không ai nghi ngờ về tác dụng của các bài tập thở trên thể sinh lực. Cũng chắc chắn như việc ăn và uống xây dựng hoặc phá hủy thể xác, và trợ giúp hoặc cản trở sự vận hành đúng đắn của nó, cũng thế, các bài tập thở tạo ra các tác dụng mạnh mẽ, nếu được vận dụng đúng đắn trong một thời gian đủ dài.

 

Qui Luật Sáu (LVHLT, 211)

Chư thiên của bốn cõi thấp cảm nhận được thần lực khi con mắt mở ra; họ được thôi thúc tới trước và đánh mất vị chủ nhân của mình.

Hoạt động của mắt.

Qui Luật Sáu

HOẠT ĐỘNG CỦA MẮT

Qui Luật mà sự thành công hoàn toàn của mọi công việc huyền thuật đều tùy thuộc vào đó.
Chìa khóa nằm trong từ ngữ sự nhập định (contemplation) có trong qui luật trước. Động từ nhìn ngắm và suy ngẫm (to contemplate) bao hàm tầm nhìn vững vàng, nhất tâm hướng về một mục tiêu đặc biệt. Linh hồn hay thái dương thiên thần (Solar Angel) có thể được coi là đang nhìn chăm chú theo ba hướng.
1. Hướng về Ánh Sáng Cao Cả (Light Supernal), hướng tới Sự Sống trung tâm hay là Năng Lượng đang che giấu bên trong Chính Nó mục đích và kế hoạch mà toàn thể Sự Sống (Being) đang hướng tới. …
2. Vượt trên lĩnh vực mà trong đó Thái Dương Thiên Thần ngự trị tối cao, vượt trên cõi giới của linh hồn, hoặc các xung lực của Chân Ngã, của công việc của Thánh Đoàn và của tư duy thuần túy. Đây là Thiên Giới (Kingdom of God), cõi giới của Thực Thể cõi trời. Đó là trạng thái mà các đệ-tử đang bắt đầu ngày càng biết đến nhiều, mà trong đó các điểm đạo đồ hoạt động, và từ đó mà các Chân Sư trong mọi đẳng cấp điều khiển diễn trình tiến hóa của hành tinh. Hai hướng này mà linh hồn đang dõi theo, tạo thành thế giới của kinh nghiệm tâm linh của nó và mục tiêu cho đạo tâm của linh hồn. … Cũng như chỉ con người hoàn toàn sáng suốt mới có thể bắt đầu hoạt động một cách có ý thức như một linh hồn, và tiếp xúc với giới linh hồn, vì thế chỉ có linh hồn hoàn toàn chủ động và có ưu thế, trong đó nguyên khí bồ đề đang kiểm soát mạnh mẽ, mới có thể bắt đầu tiếp xúc với trạng thái của Bản Thể thuần khiết, trong đó Chân Thần (monad) hoặc tinh thần đời đời an nghỉ (rests).
Sự phát triển trí tuệ nơi con người đánh dấu sự thích hợp của y đối với công việc bước lên Thánh Đạo, trở lại với ý thức linh hồn đầy đủ….
3. Hướng thứ ba mà linh hồn nhìn vào và trong đó y thực hành khả năng quán chiếu thiền định (contemplative vision) là hướng tới hình ảnh của mình trong ba cõi thấp. Mục đích của cuộc đấu tranh lâu dài giữa chân ngã với phàm-ngã (lower man) là làm cho phàm-ngã đáp ứng và ý thức một cách nhạy bén với các lực phát ra từ linh hồn khi linh hồnthiền định” (“contemplates”) về ba khí cụ của mình.

Có một sự liên quan lý thú giữa ba “hướng chiêm niệm” này và sự khơi hoạt trong ba bí huyệt chính. Điều này không thể được ám chỉ nhiều hơn do tính trừu tượng của vấn đề. Rất nhiều yếu tố chi phối sự khơi hoạt này, và mỗi người tìm đạo phải tự xác định cho mình trình tự và phương thức khơi hoạt của mình.

Bí huyệt giữa hai lông mày thường được gọi là con mắt thứ ba, có một chức năng độc đáo và đặc biệt. Như tôi đã vạch ra ở nơi khác, các đạo sinh không được lầm lẫn tuyến tùng quả với con mắt thứ ba. Chúng có liên quan nhưng không phải như nhau. Trong bộ Giáo Lý Bí Nhiệm, hình như chúng được coi là như nhau, và người đọc sơ ý có thể dễ dàng lầm lẫn chúng, nhưng chúng không giống nhau chút nào. H.P.B. đã biết điều này, nhưng sự nhầm lẫn hiển nhiên này được cho phép cho đến khi người ta biết nhiều hơn về bản chất dĩ thái của các hình tướng. Con mắt thứ ba biểu hiện như là một kết quả của sự tương tác rung động giữa các mãnh lực của linh hồn, tác động xuyên qua tuyến tùng quả, với các lực của phàm ngã, tác động xuyên qua tuyến yên. Các lực tiêu cực (negative) và tích cực (positive) này tác động lên nhau, và khi đủ mạnh, sẽ tạo ra ánh sáng trong đầu. Giống như mắt xác thịt xuất hiện để đáp ứng với ánh sáng mặt trời, vì thế mắt tinh thần cũng xuất hiện để đáp ứng với ánh sáng của mặt trời tinh thần. Khi người tìm đạo phát triển, y bắt đầu ý thức về ánh sáng. Tôi đề cập đến ánh sáng trong mọi hình tướng, bị che đậy bởi tất cả các lớp vỏ (sheaths), và các biểu lộ của sự sống thiêng liêng, chứ không chỉ đề cập đến ánh sáng bên trong bản thân người tìm đạo. Khi sự nhận thức của y về ánh sáng này tăng lên, qua đó bộ máy linh thị phát triển, và cơ cấu mà nhờ đó y có thể nhìn thấy sự vật trong ánh sáng tinh thần, xuất hiện trong thể dĩ thái.
Đây là mắt của Shiva, vì mắt đó chỉ được hoàn toàn sử dụng trong công tác huyền thuật khi trạng thái Chân Thần, tức trạng thái ý chí, đang kiểm soát.

Nhờ vào con mắt thứ ba, linh hồn hoàn thành ba hoạt động:
1. Đó là mắt của linh thị (vision). Nhờ nó, con người tinh thần nhìn thấy đằng sau các hình thức của mọi khía cạnh của sự biểu lộ thiêng liêng. Y bắt đầu nhận thức được ánh sáng của thế giới, và tiếp xúc với linh hồn bên trong mọi hình hài. Giống như mắt hồng trần ghi nhận các hình hài, cũng thế mắt tâm linh ghi nhận sự chiếu sáng bên trong các hình hài này, mà “sự chiếu sáng” đó cho thấy một trạng thái đặc thù của sự sống. Nó mở ra thế giới đầy ánh sáng chói lọi.
2. Đó là yếu tố kiểm soát công việc huyền thuật. Tất cả công việc huyền linh thuật đều được xúc tiến với một mục đích kiến tạo nhất định, có thể thực hiện qua việc sử dụng ý chí sáng suốt. Nói cách khác thì linh hồn hiểu biết thiên cơ, và khi sự chỉnh hợp được chính xác và thái độ được đúng đắn, thì trạng thái ý chí của thiên nhân (divine man) có thể hoạt động và mang lại các kết quả trong ba cõi thấp. Cơ quan được sử dụng là con mắt thứ ba. Sự tương tự với điều này có thể được nhìn thấy trong năng lực thường được ghi nhận của mắt người khi nó kiềm chế những người khác và các con vật bằng một cái nhìn, và qua cái nhìn chăm chăm có thể tác động có tính từ lực. Sức mạnh tuôn ra qua mắt người được chú định. Thần lực tuôn ra qua con mắt thứ ba được chú định.
3. Nó có một trạng thái hủy diệt và năng lượng tuôn ra qua con mắt thứ bathể có một tác dụng làm tan rã và phá hủy.
Qua sự tập trung chú ý của nó, được hướng dẫn bởi ý chí sáng suốt, nó có thể đuổi đi chất hồng trần. Đây là tác nhân (agent) của linh hồn trong công việc thanh lọc (purificatory work).
Nơi đây, cần lưu ý rằng trong mỗi thể tinh anh trong ba cõi thấp đều có một điểm tập trung tương ứng, và bí huyệt giữa hai lông mày chỉ là đối phần vật chất (vì chất dĩ thái vốn là vật chất) của các tương ứng bên trong.
Xuyên qua điểm tập trung này, linh hồn quán chiếu hoặc chiêm nghiệm về cõi trí, kể cả cơ chế trí tuệ. Tương tự như vậy trên cõi tình cảm, linh hồn được đưa vào một trạng thái nhận thức hoặc tầm nhìn của lớp vỏ tình cảm của nó và thế giới các hiện tượng cảm dục, còn thể xác thì tồn tại song hành đối với thể dĩ-thái.

Chính công việc thứ ba này của linh hồn hiện được đề cập đến ở đây, đó là công việc hủy diệt để tống khứ các hình thức cũ kỹ, để tống ra khỏi các thể loại vật chất có bản chất không mong muốn, và để phá bỏ các rào cản và các hạn chế đối với hoạt động linh hồn thực sự.

Ba hoạt động này của linh hồn, qua trung gian của con mắt thứ ba, là các tương ứng với ba trạng thái, và các đạo sinh sẽ thấy thích thú khi khai triển ba hoạt động này.

Việc nhìn thấy ánh sáng bên trong mọi hình tướng nhờ tác dụng của con mắt thứ ba (được diễn ra thông qua sự nhận thức ánh sáng trong đầu, tức ánh sáng tinh thần) chỉ là sự tương ứng với mắt xác thịt, tiết lộ các hình thức dưới ánh sáng của mặt trời vật chất. Điều này tương ứng với phàm-ngã.
Khía cạnh kiểm soát qua năng lượng từ tính và lực hấp dẫn trong mắt tinh thần, vốn là yếu tố chi phối trong công tác huyền thuật, là sự tương ứng với linh hồn. Theo một ý nghĩa huyền bí nhất, linh hồn là mắt của Chân Thần, giúp cho Chân Thần, vốn là Thực-Thể (Being) thuần khiết, hoạt động, tiếp xúc, hiểu biết và nhìn thấy.
Khía cạnh hủy diệt là sự tương ứng với Chân Thần hay là trạng thái ý chí; suy cho cùng, chính Chân Thần mới mang lại sự trừu xuất cuối cùng, hủy diệt mọi hình hài, triệt thoái chính nó ra khỏi sự biểu lộ và kết thúc chu kỳ hoạt động sáng tạo.

Đưa con mắt …. Trong Qui Luật này. Con mắt thứ ba mở ra như là kết quả của sự phát triển có ý thức, chỉnh hợp đúng và dòng chảy vào (inflow) của sự sống linh hồn. Kế đó, lực kiểm soát từ tính của nó làm cho bản thân nó được cảm nhận, đang kiểm soát sự sống của các thể thấp, đẩy ra bốn hành tố thấp (gồm đất, nước, lửa, không khí) và buộc các nguyệt-tinh-quân (lunar lords) phải triệt thoái. Phàm-ngã, vốn đã làm chủ từ trước đến nay, không còn có thể kiểm soát nữa, và linh hồn nắm quyền thống trị hoàn toàn trong ba cõi thấp.

Hành tố (đại tố, elemental) đất, vốn là tổng số của nhiều sự sống đang tạo thành thể xác, được kiềm chế và cảm thấy con mắt của Chủ Nhân (vị Chủ Nhân duy nhất trong đầu) ở trên nó. Các yếu tố thô kệch (gross elements) cấu thành thể đó bị “đuổi ra ngoài” còn các nguyên-tử hay các sự sống tốt đẹp hơn và thích hợp hơn, được gắn vào.
Hành-tố của thể cảm dục hay thể của nước (body of water) trải qua một hoạt động tương tự cộng với một ảnh hưởng ổn định, vốn mang đến một sự kết thúc tính hiếu động và sự náo động (tempestuousness) dễ thay đổi mà cho đến nay vốn đặc trưng cho nó. Qua sức mạnh từ lực đang kiểm soát của con mắt tinh thần, linh hồn cấu trúc lại thể cảm dục và giữ cho nó vững chắc và kết hợp chặt chẽ nhờ sự tập trung chú ý của linh hồn.
Một lần nữa, một tiến trình tương tự diễn ra trong thể trí. Các hình thể cũ kỹ biến mất trước ánh sáng trong trẻo mà trong đó chân nhân (spiritual man) đang hoạt động, và như Cổ Luận diễn tả:    “Linh hồn ném một cái liếc nhìn trên các hình thể của trí tuệ. Một tia sáng tuôn ra và bóng tối biến mất; các tình trạng méo mó và các hình thể xấu xa mờ đi, và mọi đốm lửa tàn lụi; người ta không còn thấy các đốm sáng nữa.
“Xuyên qua ánh sáng, con mắt đánh thức các phương cách Hiện Tồn cần thiết đi vào sự sống. Đối với đệ-tử, điều này sẽ mang đến kiến thức. Đối với kẻ vô minh không có cảm giác nào được nhận biết vì thiếu một giác quan”.
Hành-tố không khí được hiểu về mặt biểu tượng là nền tảng năng lượng vốn đang tác động thông qua các hình thức của thể dĩ thái, vốn được đề cập đến thông qua hơi thở, và được vận dụng thông qua khoa học về Thuật Điều Khí (Pranayama). Dạng hành-tố này là cấu trúc dĩ thái phức tạp, tức là các Nadis và các bí huyệt, và các đạo sinh tiến hóa đều biết rõ cách mà chúng được kiểm soát bởi sự tập trung chú ý của linh hồn trong khi nhập định, khi tác động qua bí huyệt đầu, được tập trung trong khu vực của con mắt thứ ba, và được cuốn vào hoạt động đúng đắn và đặc biệt bằng một tác động của ý chí. Trong câu trên Tôi đã tập trung công thức cho mọi công tác huyền thuật trên cõi trần. Chính là nhờ thể dĩ tháithần lực, được hướng dẫn xuyên qua bí huyệt này hoặc bí huyệt khác, mà linh hồn mới xúc tiến hoạt động trong huyền thuật.
Chính nhờ việc tập trung mãnh liệt ý định ở trong đầu, và việc chuyển sự chú ý xuyên qua con mắt thứ ba về phía bí huyệt sẽ được sử dụng, mà thần lực tìm thấy lối ra chính xác của nó. Lực đó được làm cho mạnh lên bằng ý chí sáng suốt được hướng dẫn và truyền năng lượng. Hãy nghiên cứu những điểm này, vì trong chúng, bạn sẽ tìm thấy manh mối cho công tác huyền thuật trong việc tái cấu trúc cuộc đời riêng của bạn, cho công tác huyền thuật của việc tái cấu trúc con người mà một vài Chân Sư đang xúc tiến, và cho công tác huyền thuật của sự phát triển của Thiên Cơ, vốn là mãnh lực thôi thúc của Huyền Giai huyền bí.

 

QUI LUẬT BẢY

Các mãnh lực kép trên cõi giới (nơi mà quyền năng quan trọng phải được tìm kiếm) được nhìn thấy; vị Thái Dương Thiên Thần đứng trước hai con đường; các cực rung động. Người đang thiền định phải đương đầu với một sự lựa chọn.

Bãi Chiến Trường của Cõi Cảm Dục.
Hai con đường.

+ BÃI CHIẾN TRƯỜNG CÕI CẢM DỤC 

Trong những từ ngữ về qui luật này thì cõi cảm dục, với chức năng và vấn đề của nó, có khả năng được tổng hợp. Hãy lưu ý các thuật ngữ được dùng trong sự mô tả được đưa ra trong một vài cụm từ ngắn:
1. Cõi của các mãnh lực kép.
2. Cõi của hai con đường.
3. Cõi mà trên đó quyền năng quan trọng được mưu tìm.
4. Cõi của các cực rung động.
5. Cõi mà trên đó một sự lựa chọn được thực hiện.
Một trong những việc quan trọng nhất mà mỗi người tìm đạo phải thực hiện là học để hiểu cõi cảm dục, để thấu đáo bản chất của nó, và học để đứng tách ra khỏi nó, và sau đó hoạt động trên nó. Trong hướng dẫn này, tôi tìm cách đưa ra một số giáo huấn rõ ràng về cõi này, bởi vì vào lúc mà một người có thể “nhìn thấy” trên cõi cảm dục, và có thể đạt được trạng thái cân bằng và giữ vững vàng ở giữa các lực rung động của nó, thì lúc đó y đã sẵn sàng cho cuộc điểm đạo.(LVHLT, 219)

– Thuật ngữ “thuộc về sao” (“astral”, trong “astral plane” là “cõi cảm dục”), rất thường được dùng, thực ra là cách đặt tên sai. Về cơ bản, H.P.B. có lý khi bà dùng thuật ngữ này để nói đến các phân cảnh dĩ thái hoặc sinh lực của cõi trần. Khi tiếp xúc với thế giới dĩ-thái, ấn tượng đầu tiên được mang lại luôn luôn là một ánh sáng đầy sao, sự sáng chói, sự nhấp nháy. Tuy nhiên, dần dần từ ngữ này trở thành được đồng nhất với Kama hay là dục vọng (desire), và vì thế được dùng để chỉ cõi của phản ứng tình cảm. Thật là lý thú khi ghi nhận điều này, vì nó là một trường hợp về tác dụng của cõi cảm dục (astral plane) trên bộ não con người, tác dụng này, trong tình trạng không am hiểu về nó, làm đảo ngược thực tế và thấy mọi thứ trong tình trạng lộn ngược đầu. Sự xuất hiện của cõi cảm dục khi được nhìn thấy chính xác lần đầu bằng “con mắt đã mở” của người tìm đạo là sự xuất hiện của sương mù dày đặc, hỗn độn, các hình thể hay thay đổi, các màu sắc hòa nhập (interpenetrating) và trộn lẫn với nhau, và có bề ngoài mang nhiều màu sắc biến ảo đến nỗi sự vô vọng của công việc dường như đang lấn át. Nó không phải là ánh sáng, hoặc đầy sao, hoặc trong trẻo. Nó có vẻ là một sự hỗn độn không thể xuyên qua được, vì đó là nơi gặp gỡ của các lực (forces).(LVHLT, 221)

=> Một trong những điều đầu tiên khi đó mà người tìm đạo phải học là tách rời hào quang của riêng y trong ý thức tình cảm ra khỏi hào quang của môi trường xung quanh y, và mất nhiều thời gian trong việc học để làm điều này. Chính vì lý do này mà một trong những phẩm chất đầu tiên của cương vị đệ-tử là tính phân biện, vì chính thông qua việc sử dụng thể trí, dưới vai trò người phân tích và người chia tách, mà thể cảm dục mới được đưa vào kiểm soát.

Thứ hai, cõi cảm dục là cõi của ảo tưởng, của ảo cảm (glamour), và của một cách trình bày lệch lạc về thực tại. Lý do cho điều này là mỗi cá nhân trên thế gian đang bận hoạt động trong chất cảm dục, và uy lực của dục vọng con ngườidục vọng thế gian tạo ra “sự hình dung” (“out-picturing”) và sự kiến tạo hình thể liên tục, điều đó dẫn đến những kết quả cụ thể nhất của chất cảm dục. Dục vọngnhân, dục vọng quốc gia, dục vọng chủng tộc, dục vọng của nhân loại nói chung, cộng với dục vọng mang tính bản năng của mọi sinh linh dưới nhân loại gây ra một sự thay đổi và sự thăng trầm liên tục chất liệu của cõi này; có một sự xây dựng các hình thể tạm thời, một số có vẻ đẹp hiếm thấy, một số không đẹp đẽ gì cả, và một việc tiếp sinh lực (vitalising) bằng năng lượng cảm dục của người tạo ra nó. Thêm vào các hình thể này là cảnh tượng bền bĩ và tăng trưởng đều đặn mà chúng ta gọi là “các tiên thiên ký ảnh (“akashic records”), có liên quan đến lịch sử tình cảm của quá khứ, cộng thêm các hoạt động của sinh linh thoát xác (discarnate) đang đi qua cõi cảm dục, hoặc là ra khỏi kiếp sống, hoặc đang đi đầu thai, cộng thêm ước vọng mạnh mẽ được thanh luyện và sáng suốt của các Đấng Siêu Nhân (superhuman Lives), kể cả các Đấng Cao Cả của Thánh Đoàn hành tinh huyền bí, và toàn thể các mãnh lực hiện hữu là vô cùng to lớn. Tất cả đang tác động, xung quanh và xuyên qua mỗi con người, và tùy theo tính chất của thể xác y, và tình trạng của các bí huyệt của y mà sự đáp ứng của y sẽ xảy ra Xuyên qua bức tranh toàn cảnh huyễn ảo này, người tìm đạo phải tạo con đường cho mình, tìm ra manh mối hoặc sợi chỉ sẽ dẫn y ra khỏi mê cung, và bám chặt vào từng mảnh nhỏ của thực tại khi nó bộc lộ ra cho y, học cách phân biệt điều chân thật với ảo giác (glamour), cái thường tại với cái vô thường, và điều chắc chắn (certainty) với cái hư ảo (unreal). Như Cổ Luận giảng: “Người đệ-tử hãy nắm lấy cái đuôi của con rắn minh-triết, và khi đã nắm chặt nó, y hãy theo nó vào trung tâm sâu nhất của Phòng Minh-Triết (Hall of Wisdom). Y đừng để bị dẫn vào cái bẫy do con rắn của ảo giác đặt ra cho y, mà y hãy nhắm mắt lại trước các họa tiết đầy màu sắc trên lưng của nó, và đóng chặt đôi tai của y trước những giai điệu trong tiếng nói của nó. Y hãy nhìn thấy viên ngọc, đặt ở trán của con rắn mà y đang nắm đuôi của nó, và nhờ ánh sáng chói lọi của viên ngọc, y hãy băng qua các phòng ảo giác lầy lội”.

– Không có gì trong thiên đàng hoặc địa ngục, trên trần thế hoặc nơi nào khác thể ngăn chặn sự tiến bộ của người đã tỉnh thức trước ảo tưởng, đã thoáng thấy được thực tại bên kia ảo cảm của cõi cảm dục, và đã nghe, mặc dù chỉ một lần, tiếng kêu gọi thúc giục của chính linh hồn mình (LVHLT, 223)

+ Cõi Cảm dục – Nghành Kinh Tế: Ánh sáng và bóng tối tác động lên nhau, cũng như lạc thú và đau khổ; thiện và ác gặp nhau, tạo thành sân chơi của các vị Thần, còn sự nghèo khổ và sự giàu có được bù đắp cái này cho cái kia. Toàn bộ tình hình kinh tế hiện đại có bản chất cảm-dục; nó là hậu quả của sự ham muốn và là kết quả của việc sử dụng ích kỷ nào đó các lực vật chất. Nóng và lạnh, như chúng ta hiểu, theo một cách đặc biệt nhất, là kết quả của sự tương tác của các cặp đối ứng, và là một đường lối nghiên cứu huyền bí thú vị, nó liên quan đến những ảnh hưởng của các cảm xúc thuộc về chủng tộc trên các điều kiện về hoàn cảnh. Hầu hết chúng ta thật sự tạo ra hoàn cảnh của chúng ta theo một ý nghĩa đáng kể. Khi ham muốn đã tự nó tiêu tan hết thì sự sống hành tinh đi đến một sự kết thúc, vì các điều kiện về hoàn cảnh sẽ vô hiệu hóa sự sống-hình thể (form-life) theo như cách chúng ta hiểu nó.(LVHLT, 226)

+ Với con người, bí mật của giải thoát nằm ở việc làm quân bình của các lực và làm cân bằng (equilibrising) các cặp đối ứng. Thánh Đạo là con đường hẹp giữa những cặp này mà người tìm đạo phải tìm ra và bước lên, không rẽ phải mà cũng không rẽ trái…. Phải luôn luôn nhớ rằng khi các cặp đối ứng được nhận ra, khi một người làm cân bằng các lực của bản chất riêng của mình, khi y đã tìm thấy Thánh Đạo và trở thành Thánh Đạo, lúc bấy giờ y có thể hoạt động với các mãnh lực trên thế gian, có thể duy trì sự quân bình và sự cân bằng các năng lượng của ba cõi thấp, và nhờ thế trở thành một người đồng-cộng tác với các Chân Sư Minh-Triết (Masters of Wisdom). Chúng ta hãy cầu nguyện và hy vọng rằng điều này có thể là kết quả thực tế của sự hiểu biết của chúng ta về bản chất của chiến trường của cõi cảm dục.(LVHLT, 226).

+ HAI CON ĐƯỜNG (Tà Đạo và Thành Đạo; hoặc Hắc thuật và Huyền thuật của Thánh đoàn) (LVHLT, 226)

+ Chuyển từ việc xem xét của chúng ta về bản chất của cõi cảm dục, chúng ta sẽ đề cập đến các chức năng của nó và sự liên quan của đệ-tử với các hoạt động của nó. Chúng ta hãy nhớ một số điều về nó. Đầu tiên, nó nổi bật là bãi chiến trường, và chiến tranh được diễn ra trên đó, dẫn tới sự giải thoát cuối cùng của linh hồn bị giam cầm. Thật là hữu ích khi ghi nhớ những đặc điểm nổi bật của ba cõi giới và ba thể đang hoạt động trên chúng.

Cõi hồng trần là cõi của kinh nghiệm thiết thực ở trong và xuyên qua vật chất. Đó là cõi của sự thể hiện ra ngoài (externalization), và tùy theo tình trạng và mức độ phát triển của con người nội tâm mà hình thức bên ngoài và các hoạt động của nó cũng sẽ như thế đó.

– Cõi cảm dục là cõi mà nơi đó con người trải qua ba giai đoạn của ý thức:
a/ Qua bộ máy cảm giác, con người có được ý thức trong thế giới sắc-tướng, và phát triển khả năng phản ứng lại với các sắc-tướng này bằng sự minh-triết và sự thông tuệ. Y chia sẻ ý thức này với thế giới động vật, mặc dù y vượt xa chúng trong một số khía cạnh, nhờ vào việc y sở hữu một thể trí biết phối hợp và biết hợp tác.
b/ Sự nhạy cảm, hay là sự nhận thức về các tâm trạng, các cảm xúc và các cảm giác, các dục vọng và các khát vọng, vốn có các gốc rễ của chúng từ bên trong y, trong nguyên khí ngã thức, hay trong nguyên khí ahamkara, như nhà huyền linh học (vốn yêu thích các thành ngữ khó hiểu) thường hay gọi nó. Y chia sẻ điều này cùng với đồng loại của mình.
c/ Sự nhận thức tâm linh hay sự nhạy cảm với thế giới tâm linh, và trạng thái cảm nhận về tâm thức cao siêu. Điều này có các nguồn gốc của nó trong linh hồn, bao hàm địa vị thống trị của bản chất trí tuệ, và chính năng lực đó làm cho y thành một nhà thần bí. Y chia sẻ nhận thức này cùng với tất cả các đệ-tử và đó là phần thưởng của các chiến thắng đã đạt được của kinh nghiệm cõi cảm dục của y.

– Kế tiếp là đến cõi trí. Chính việc sử dụng đúng đắn trí tuệ là thành quả nổi bật. Điều này cũng được đặc trưng bởi ba giai đoạn:
a/ Giai đoạn mà trong đó thể trí là chủ-thể-nhận các ấn tượng từ thế giới bên ngoài, xuyên qua năm giác quan và não bộ. Đây là một tình trạng tiêu cực, và trong đó, “các biến thái của nguyên khí suy tư” được gây ra thông qua các tác động của thế giới bên ngoài, và các phản ứng của thế giới cảm dục.
b/ Giai đoạn mà trong đó thể trí bắt đầu các hoạt động riêng của nó, và trong đó trí tuệ là một yếu tố chiếm ưu thế. Mặc dù bị đưa vào hoạt động bởi các yếu tố liệt kê ở trên, nó cũng đáp ứng với các luồng tư tưởng của cõi trí nữa, và trở nên cực kỳ linh hoạt như là kết quả của hai sự tiếp xúc này. Ngoài các điều này, một hoạt động thứ ba bất ngờ xảy ra (supervenes), nơi đó nguyên khí lý luận tác động lên thông tin thu được theo hai cách này, thiết lập các dòng tư tưởng riêng của nó, và đưa ra các hình tư tưởng của chính nó, cũng như ghi nhận các hình tư tưởng của những người khác.
c/ Giai đoạn trong đó linh hồn, nhờ định trí và tham thiền, thành công trong việc áp đặt các ý tưởng và các ấn tượng của nó lên thể trí được giữ “ổn định trong ánh sáng” và nhờ thế giúp cho thể trí đáp ứng với các ấn tượng và các tiếp xúc phát ra từ thế giới chủ quan và tinh thần.

+ Thật là lý thú khi ghi nhận trình tự huyền bí trong cách mô tả được dành cho cõi này trong qui luật đang xem xét.

+ Vượt chướng ngại/ ma chướng: Tất cả các đệ-tử hãy lưu ý điều này và hãy ghi nhớ về nó trong thời kỳ khó khăn và căng thẳng này. Các đệ-tử đó thỉnh thoảng có tiếp xúc hữu thức với các mãnh lực của linh hồn họ, và đối với họ không có sự thất bại, cũng như không có việc quay lại. Họ là những chiến sĩ đã được thử thách, vết thương thành sẹo và mệt mỏi, nhưng biết rằng các vinh quang chiến thắng ở phía trước, vì linh hồn vốn toàn năng. Các đệ-tử nhập môn, vốn đang chiến đấu với tất cả các yếu tố kể trên, cộng với các mãnh lực hắc ám được dàn ra chống lại Huynh Đệ Đoàn, thể kêu cầu đến các năng lượng tinh thần thuộc nhóm của họ, và vào những lúc hiếm hoi và cần thiết, kêu cầu đến vị Chân Sư mà họ đang hoạt động dưới quyền của Ngài. Nhờ thế, công việc và sức lực mở rộng; nhờ thế trách nhiệm và sự nỗ lực tăng lên đều đặn (LVHLT, 231)

 

QUY LUẬT TÁM
(Qui luật này quan trọng nhất trong sách này theo quan điểm của đạo sinh trung bình_LVHLT, 235)

Các Hỏa Thần (Agnisuryans) đáp ứng với âm thanh. Nước xuống và lên. Nhà huyền thuật hãy tự bảo vệ mình khỏi chết đuối, vào thời điểm mà đất và nước gặp nhau. Nơi ở giữa, không khô mà cũng không ướt, phải cung cấp chỗ đứng cho y đặt đôi chân lên. Khi nước, đất và không khí gặp nhau, thì huyền thuật có chỗ để thể hiện.

Các loại Lực Cảm-Dục Sự thăng trầm theo chu kỳ.

Qui Luật Tám
CÁC LOẠI LỰC CẢM DỤC

+ Thuật ngữ “cõi cảm dục”: Bản chất và chức năng của nó ở vai trò là bãi chiến trường của các giác quan, và là nơi mà từ đó huyền thuật được tiến hành. Mong muốn sáng suốt và có tính chất xây dựng của nhà huyền linh thuật, hành động dưới sự hướng dẫn của chính linh hồn mình, và do đó bận rộn với công việc tập thể, là sức mạnh thôi thúc đàng sau của mọi hiện tượng huyền thuật. Công việc huyền thuật này được bắt đầu trong cuộc sống riêng của nhà huyền thuật, mở rộng đến thế giới của cõi cảm dụctừ đó (khi trở nên mạnh nơi đó) có thể bắt đầu biểu lộ trên cõi hồng trần và sau rốt trên những cõi cao hơn.
Do đó, chúng ta sẽ dùng một số lớn thời gian cho qui luật này, vì nó bao gồm công việc và hoạt động trước mắt của người tìm đạo sáng suốt. Qui luật này quan trọng nhất trong sách này theo quan điểm của đạo sinh trung bình. Người ta không thể hiểu được nó khi không có sự giao tiếp với linh hồn, mãnh lực huyền thuật của linh hồn cũng không thể thể hiện thành sự biểu lộ trên cõi trần cho đến khi ý nghĩa của các cụm từ huyền bí của nó đã được phần nào thể hiện trong kinh nghiệm nội tâm của nhà huyền thuật(LVHLT, 235)

+ Chúng ta sẽ chia qui luật này thành nhiều phần, và để có được một sự hiểu biết khôn ngoan về các hàm ý rộng rãi của chúng.
Ba phân chia này là:
1. Sự đáp ứng của các tinh linh ngũ-hành cõi cảm dục và sự xuống và lên của nước tương ứng.
2. Các nguy hiểm của nơi lưng chừng, bản chất của nó và cơ hội mà nó đem lại.
3. Nơi mà huyền thuật được thể hiện.

+ Kẻ chặn ngõ: Thứ hai, lực của sự sợ hãi. Đây là sản phẩm của sự vô minh, và trong những giai đoạn đầu của nó, nó không phải là sản phẩm của tư duy sai lầm. Về mặt cơ bản nó thuộc về bản năng và được thấy đang chi phối trong giới động vật chưa có trí cũng như trong giới nhân loại. Nhưng trong con người, sức mạnh của nó được tăng lên mạnh mẽ do các quyền năng của thể trí, do ký ức về sự đau khổ và sự ưu phiền trong quá khứ, và do sự đề phòng về những điều đó mà chúng ta tiên đoán, sức mạnh của sự sợ hãi được tăng cường rất nhiều bởi hình-tư-tưởng mà chính chúng ta đã tạo nên bằng các nỗi sợ và các ám ảnh riêng của mình. Hình-tư-tưởng này tăng thêm quyền lực khi chúng ta chú ý đến nó, vì “năng lượng theo sau tư tưởng”, cho đến khi chúng ta bắt đầu bị nó chế ngự. Đặc biệt, những người thuộc cung 2 là nạn nhân đối với việc này. Đối với đa số những người đó, nó tạo thành “kẻ chận ngõ” (“dweller on the threshold”), cũng như sự tham vọng và sự yêu thích quyền lực, được hậu thuẫn bởi sự ham muốn điên cuồng và sự vô liêm sĩ (unscrupulousness), tạo thành “Kẻ Chận Ngõ” đối với những loại người thuộc cung một. Hình-tư-tưởng, kết tinh của sự thành tựu trí tuệ cho những mục đích ích kỷ và việc dùng tri thức cho các mục tiêu thuộc về phàm ngã, thì đứng trước cổng của đường đạo trong trường hợp người thuộc cung ba, và nếu không bị đập tan và bị phá hủy, hình tư tưởng này sẽ chế ngự con ngườibiến đổi y thành một nhà hắc thuật. (LVHLT, 239)

+ Lời cầu nguyện giải tỏa sự sợ hãi: Tôi muốn đề nghị họ nhớ nằm lòng và luôn luôn sử dụng, khi bị cuốn đi bởi nỗi sợ hãi do ảo tưởng và điềm báo vô ích, công thức hoặc lời cầu nguyện sau đây: “Xin cho thực tại chi phối mọi suy nghĩ của tôi, và chân lý là chủ nhân của cuộc đời tôi”. (LVHLT, 239)

+ Linh hồnNhân hồn: Cần phân biệt Linh hồn trên cõi của nó, liên quan đến mô tả trong các cõi cảm dụctrí tuệ. Đó là Nhân hồn – Linh hồn phân thân đi đầu thai.
* Phải nhớ rằng
không có cái nào trong số tên gọi này và các hoạt động này (Trên cõi cảm dục, cõi trí) liên quan đến linh hồn trên cõi riêng của nó (Chân Ngã – ND), mà chỉ có liên quan tới các nhân hồn (human souls) đang luân hồi trên cõi trần mà thôi. Điều này phải được nhấn mạnh, trên cõi riêng của mình, các linh hồn của tất cả mọi người đều thoát khỏi ảo tưởng (illusion), và không linh hồn nào có thể bị hủy diệt, bị lừa dối cũng không bị lôi kéo. Đó chỉ là “những linh hồn trong ngục tù”, những linh hồn này bị lệ thuộc vào các hoạt động của các lực (forces of evil) và chỉ trong một kỳ hạn (LVHLT, 241)

+ Nhứng kẻ chặn ngõ thuộc (Linh hồn) Cung 1Cung 2Cung 3 (LVHLT, 241)

+ NGÀY VÀ ĐÊM – ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI: sự kiện xảy ra hằng ngày mang tính biểu tượng, trong đó một phần của thế giới mà chúng ta đang sống quay ra ánh sáng trong trẻo của mặt trời, và sau đó quay trở lại vào bóng tối hàn gắn (healing dark) của ban đêm. Việc rất quen thuộc của chúng ta với hiện tượng này làm cho chúng ta không còn thấy ý nghĩa mang tính biểu tượng của nó và quên rằng theo đại luật, các chu kỳ của ánh sáng và bóng tối, của điều thiện và điều ác, của sự nhấn chìm và sự nổi lên, của sự tiến bộ đi đến sự giác ngộ và việc có vẻ như dẫn vào bóng tối, vốn đặc trưng cho sự phát triển của mọi hình tướng, làm nổi bật sự phát triển của các chủng tộc và các quốc gia, và cấu thành vấn đề của người tìm đạo, là người vốn đã xây dựng cho chính mình một hình ảnh của việc bước vào trong một tình trạng luôn được soi sáng, và của việc để lại phía sau tất cả những nơi chốn tối tăm (LVHLT, 243)

+ LINH HỒN/ THỨC LUÂN HỒI: Chu kỳ nổi bật cho mỗi linh hồn là chu kỳ của việc đi vào luân hồi của nó, và sự quay về hoặc chảy trở lại vào trung tâm mà từ đó nó phát xuất. Việc hiểu biết về sự thăng trầm này sẽ theo quan điểm đó. Về mặt nội môn, các linh hồnthể được xem như là những người “tìm kiếm ánh sáng kinh nghiệm” và do đó quay về phía biểu hiện vật chất, và những linh hồn “tìm kiếm ánh sáng hiểu biết”, và do đó rút lui khỏi lĩnh vực thế sự của con người để tiến theo con đường hướng nội vào trong tâm thức của linh hồn, và vì thế trở thành “những kẻ an trú trong ánh sáng vĩnh cửu”. Không đánh giá được ý nghĩa của các thuật ngữ này, các nhà tâm lý học đã cảm nhận những chu kỳ này, và gọi một số loại là những người hướng ngoại (extraverts), và một số loại khác là những người hướng nội (introverts). Những điều này đánh dấu một sự thăng trầm trong kinh nghiệm cá nhân, và là các tương ứng đời sống nhỏ bé so với các chu kỳ lớn lao của linh hồn. Sự đi vào và đi ra mạng lưới của sự sống luân hồi này là các chu kỳ chính của bất kỳ linh hồnbiệt nào, và một nghiên cứu về các loại chu kỳ qui nguyên được bàn đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm và trong Luận Về Lửa Càn Khônđạo sinh sẽ nhận thấy là có giá trị thực sự (LVHLT, 243)

+ Người Có Đạo Tâm: Với mục đích hữu thức, y mong mỏi bước đi trong các nơi tối tăm của sự sống nhập thể, và cũng với mục đích hữu thức, y tìm cách rút lui vào trung tâm riêng của y. Từ đây y trở thành một người có đạo-tâm (aspirant).
Đời sống của người có đạo tâm bắt đầu lặp lại các chu kỳ trước đó. Y bị tấn công bởi một sự kích thích bất ngờ của bản chất xác thân, và bị lôi cuốn dữ dội bởi những ham muốn và khát vọng xưa cũ. Điều này có thể được nối tiếp bằng một chu kỳ mà trong đó thể xácý thức về việc luồng năng lượng thiết yếu chảy ra khỏi nó, và bị suy nhược (devitalised), bởi vì không phải là đối tượng của sự chú ý. Việc này giải thích cho nhiều bệnh tật và sự thiếu sinh lực (vitality) của nhiều người trong số các phụng-sự-viên được đánh giá cao nhất của chúng ta. Tiến trình tương tự có thể ảnh hưởng đến thể tình cảm, và các giai đoạn của sự phấn khích và của đạo tâm dâng cao nhất luân phiên với các giai đoạn trầm cảm sâu xa nhất và thiếu sự chú tâm. Luồng triều lên (flow) có thể chuyển đến thể trí và tạo ra một chu kỳ hoạt động trí tuệ mạnh mẽ. Việc nghiên cứu liên tục, tư tưởng dồi dào, sự điều nghiên sắc sảo và một sự thôi thúc trí tuệ vững chãi, sẽ là đặc trưng cho trí tuệ của người có đạo tâm. Một chu kỳ có thể kế tiếp chu kỳ này, trong đó mọi nghiên cứu đều không vừa ý, và thể trí dường như hoàn toàn bị bỏ phế và thụ động. Đó là một nỗ lực để suy tư, và sự vô nghĩa của các trạng thái tư tưởng tấn công vào thể trí. Người có đạo tâm quyết định rằng tồn tại (to be) thì tốt hơn nhiều so với hành động (to do). “Có thể nào những mảnh xương khô này còn sống chăng?” Y tự hỏi, và không mong muốn thấy chúng tái sinh. (LVHLT, 245)

+ Bạn đòi hỏi một định nghĩa rõ ràng hơn về vị trí “ở giữa” (“midway” spot).
Đối với đệ-tử dự bị (probationer), đó là cõi tình cảm, tức là Kurukshetra, hoặc cõi của ảo tưởng, nơi mà đất (bản chất hồng trần) và nước (bản chất tình cảm) gặp nhau.

Đối với đệ-tử thực thụ (disciple), đó cõi trí, nơi mà sắc tướnglinh hồn tiếp xúc và sự chuyển tiếp lớn bắt đầu xảy ra.

Đối với đệ-tử cao cấp và điểm đạo đồ, vị trí ở giữa thể nguyên nhân (causal body), tức là karana sarira, thể tinh thần (spiritual body) của linh hồn, giữ vai trò trung gian giữa Tinh Thần (Spirit) và vật chất, Sự Sống và sắc tướng, Chân Thần (monad) và phàm ngã.

+ Năng Lượng Theo Sau Tư Tưởng: Bí mật cơ bản của các chu kỳ nằm trong sự triệt thoái này và việc tái tập trung sự chú ý tiếp sau đó, và cần phải nhớ trong sự liên kết này là định luật căn bản nằm dưới mọi công tác huyền thuật là “năng lượng theo sau tư tưởng”. Nếu những người tìm đạo nhớ điều này, họ sẽ sống qua các thời kỳ khó khăn của họ một cách dễ dàng hơn nhiều, và sẽ có ý thức về mục đích nền tảng.

– Những nguy hiểm gắn liền với sự tuôn đổ sớm và không được kiểm soát của năng lượng tinh thần thuần khiết vào cơ cấu của phàm-ngã. Sức mạnh tinh thần thiết yếu đó đi vào qua kẽ hở ở sọ, và đổ vào các bí huyệt đầu (LVHLT, 249)

+ CÁC ĐẠI VÀ LUÂN XA: Một manh mối cho ý nghĩa của các thuật ngữ này được tìm thấy trong việc công nhận sự thực huyền bí sau đây.
– Nơi mà nước và đất gặp nhau là bí huyệt đan điền (solar plexus centre).
– Nơi mà nước, đất và không khí gặp nhau là ở trong đầu.
Đấtbiểu tượng của sự sống cõi trần, và của hình tướng bên ngoài.
Nướcbiểu tượng của bản chất tình cảm.
Chính là từ bí huyệt lớn của đời sống phàm-ngã, tức huyệt đan điền, mà đời sống thường bị chế ngự và sự quản lý được thực hiện. Khi trung tâm điều khiển nằm dưới cơ hoành thì không huyền thuật nào có thể xảy ra. Sinh hồn (animal soul) kiểm soát và hồn thiêng (spiritual soul) tất nhiên không hoạt động.
– Không khíbiểu tượng của sự sống cao siêu, nơi đó nguyên khí Christ thống trị, nơi đó sự tự do được trải nghiệm và linh hồn đạt đến sự biểu lộ đầy đủ. Nó là biểu tượng của cõi bồ-đề, trong khi nướcbiểu tượng của cõi tình cảm. Khi sự sống của phàm-ngã được đưa lên Cõi Trời (Heaven), và sự sống của linh hồn đi xuống đến cõi trần, thì có chỗ gặp nhau, và nơi đó hoạt động huyền thuật siêu việt mới có thể xảy ra.  Khi sự sống của phàm-ngã được đưa lên Cõi Trời (Heaven), và sự sống của linh hồn đi xuống đến cõi trần, thì có chỗ gặp nhau, và nơi đó hoạt động huyền thuật siêu việt mới có thể xảy ra.
Nơi gặp gỡ này là vị trí của lửa, tức là cõi trí. Lửabiểu tượng của trí tuệ, và mọi hoạt động huyền thuật là một diễn trình sáng suốt, được thực hiện trong sức mạnh của linh hồn, và bằng cách sử dụng thể trí. Để làm cho chính nó được cảm thấy trên cõi trần, cần có một bộ não, nó vốn dễ tiếp nhận các xung lực cao siêu và có thể được linh hồn tạo ấn tượng bằng cách sử dụng các “chitta” hay chất trí để tạo ra các hình tư tưởng cần thiết, và nhờ đó thể hiện ý tưởng và mục đích của linh hồn bác ái sáng suốt. Những điều này được nhận biết bởi bộ não và được chụp ảnh lên “các chất khí sinh động” (“vital airs”) ở trong khoang não (LVHLT, 250)

+ CÔNG TÁC HUYỀN THUẬT: Công tác huyền thuật này, được xúc tiến dưới sự điều khiển của linh hồn (tạo cảm hứng cho thể trí, rồi đến lượt thể trí gây ấn tượng cho não bộ), sau đó, (như là kết quả của hoạt động phối hợp ba phần này) dẫn đến sự sáng tạo của một trung tâm tập trung, hay hình thức (form) tập trung, trong đầu của nhà huyền thuật. Năng lượng, vốn tuôn chảy qua tụ điểm này, tác động qua ba tác nhân phân phối, và do đó cả ba đều được bao hàm trong mọi công tác huyền thuật.
1. Mắt phải, qua đó năng lượng thiết yếu của tinh thầnthể tự biểu lộ.
2. Bí huyệt cổ họng, qua đó Linh Từ (Word), trạng thái thứ hai hay linh hồn tự biểu lộ.
3. Hai bàn tay, qua đó năng lượng sáng tạo của trạng thái thứ ba hoạt động.
“Nhà Huyền Linh Học” (“The White Magician”) làm việc “với đôi mắt mở rộng, tiếng nói tuyên bố và đôi tay ban phát”. (LVHLT, 253)

Các điểm này có tầm quan trọng về mặt kỹ thuật đối với người hoạt động có kinh nghiệm trong huyền thuật, nhưng chỉ có tầm quan trọng mang tính tượng trưng đối với những người tìm đạo, tức là những người mà những lá thư này được dự định dành cho họ.

Tầm nhìn bên trong có thể thuộc về chúng ta, mắt nhìn thấy rõ sự vinh hiển của Chúa, và tiếng nói chỉ nói khi chúc phúc (in benediction), và đôi tay chỉ được dùng trong việc giúp ích, những điều đó có thể là lời cầu nguyện của mỗi người chúng ta.

 

QUI LUẬT CHÍN

Tiếp theo là sự cô đọng xảy ra. Lửanước gặp nhau, hình tướng phồng lên và phát triển. Nhà huyền thuật hãy đặt hình tướng của mình vào con đường thích hợp.

Sự Cần Thiết phải Thanh Khiết.

Các Hình Thức Cơ Bản.

 

QUI LUẬT CHÍN

SỰ CẦN THIẾT PHẢI THANH KHIẾT

Qui luật chín được tìm thấy trên trang 1017 trong bộ Luận Về Lửa Càn Khôn, và lời bình giải được đưa ra trong Bộ Luận thì vắn tắt một cách đáng chú ý:

Qui luật này được tổng kết rất vắn tắt trong huấn lệnh: hãy để cho ham muốn và tâm trí thật thanh khiết, và được phân bổ thật đồng đều, và hình hài sáng tạo được quân bình thật hợp lý, đến nỗi nó không thể bị thu hút về phía con đường hủy diệt hay ‘tả đạo’”.

Điểm chủ yếu được nhấn mạnh trong qui luật này là sự thanh khiết và, suy cho cùng, sự thanh khiết phần lớn là một vấn đề về động cơ. Nếu động cơ dẫn đến hành động thuộc bất cứ loại nào trong ba cõi thấp được dựa trên ham muốn của phàm-ngã, và được mang lại bằng việc dùng thể trí, thì bấy giờ sự thiếu thanh khiết đặc trưng cho hành động đó.

Nhưng ở đây, người tìm đạo không cần xem xét sự thanh khiết tuyệt đối. Đối với đa số, sự thanh khiết về thể chất và tình cảm là những mục tiêu, và do đó chủ yếu là sự giải thoát khỏi sự kiểm soát và ham muốn về tình cảm. Do đó mà huấn thị bằng lời thường xuyên mặc dù không đúng trong nhiều sách nội môn“Hãy tiêu diệt lòng ham muốn. Có lẽ một sự diễn dịch chính xác hơn ngay lúc này sẽ là “định hướng lại sự ham muốn” hay “chuyển hướng dục-vọng” (“re-direct desire”), vì một tiến trình kiên trì định hướng lại toàn bộ bản chất dục vọng sao cho cuối cùng nó trở thành một trạng thái tâm trí quen thuộc sẽ là đầu mối cho tất cả các diễn trình chuyển hóa, và cho hoạt động huyền thuật có hiệu quả. (LVHLT, 258)

+ Tôi mạn phép nhắc nhở tất cả độc giả rằng việc thiết lập và làm ổn định các thói quen đúng đắn, đối với người tình nguyện đi trên con đường đệ-tử, là một đòi hỏi hàng đầu (LVHLT, 259)

+ Hình Hài của Phàm-Ngã, hiện thể đó bằng chất hồng trần, chất cảm dụcchất trí, vốn cung cấp phương tiện tiếp xúc trong ba cõi thấp. Nó được tạo ra trong mỗi kiếp sống, chủ âm (key) rung động được thiết lập trong kiếp sống trước kiếp sống hiện tại. Hình hài đó tỏ ra thích hợp đối với người trung bình và phục vụ y cho đến khi chết. Người đang bước vào trên con đường huyền bí bắt đầu với hiện thể được cung cấp, nhưng trong khi lâm phàm, luôn kiến tạo cho y một hiện thể mới hơn và tốt đẹp hơn, và càng tiến hóa thì y càng hành động một cách có ý thức hơn. Điều đó dẫn đến sự rối loạn liên tục và sức khỏe thường không tốt ở người sơ cơ (beginner) trong đời sống huyền linh. Y cảm nhận được thiên-luật, y nhận thức sự cần thiết của việc nâng cao chủ âm (key) của y, và thường thì y bắt đầu với những sai lầm. Y bắt đầu kiến tạo thể xác của mình một lần nữa bằng chế độ ăn kiêng và giới luật, thay vì hoạt động từ trong ra ngoài. Bằng giới luật cẩn thận của tâm trí, bằng việc vận dụng chất liệu tư tưởng, và bằng sự chuyển hóa cảm xúc, đi đến việc thể hiện ra trên cõi trần. Thêm vào hai điều trên, sự thanh khiết ở cõi trần đối với thực phẩm và cách sống, và trong thời gian bảy năm, người ấy đã xây đắp cho chính mình ba thể mới xung quanh các nguyên-tử thường tồn.

+ Tất cả các hình hài được tạo ra ở mọi giai đoạn hoặc bị giới hạn vào tả-đạo, hoặc bao gồm lấy nó, và tuy thế lại vượt qua nó, và đi theo chính-đạo (right hand way). Câu này cung cấp chất liệu cho tư tưởng và ý nghĩa của nó thật khó mà hiểu được. Cần ghi nhớ rằng mọi hình hài, cho dù chúng theo chính-đạo hoặc tả-đạo, đều giống nhau cho đến một mức độ nào đó; chúng đi qua các giai đoạn phát triển như nhau và ở vào một lúc trong quá trình phát triển của chúng, chúng xuất hiện đồng dạng và giống nhau. Chỉ khi mục đích của chúng xuất hiện thì sự phân biệt mới trở nên rõ ràng, và do đó việc huấn luyện cho người tìm đạo theo động cơ đúng đắn như là một bước chuẩn bị cho công việc huyền linh đích thực. (LVHLT, 267)

+ Công việc huyền linh học thực sự bao hàm:
1. Sự tiếp xúc với Thiên-Cơ.
2. Ý muốn chính đáng để hợp tác với Thiên Cơ.
3. Công việc kiến tạo hình-tư-tưởng và việc giới hạn sự chú tâm của người sáng tạo ra những hình-tư-tưởng này vào cõi trí. Điều này có bản chất mạnh đến nỗi các hình-tư-tưởng được tạo ra có một chu kỳ sống của riêng chúng, và không bao giờ thất bại khi biểu lộ và thực hiện công việc của chúng.
4. Sự điều khiển hình-tư-tưởng từ cõi trí và việc giới hạn sự chú ý vào công việc đặc biệt đó, biết rằng tư tưởng chân chính và sự định hướng chân chính dẫn đến hành động đúng đắn, và chắc chắn tránh khỏi tả đạo. (LVHLT, 268)

 

QUI LUẬT MƯỜI

Khi nước bao phủ hình hài được tạo ra, chúng được hấp thu và được sử dụng. Hình hài tăng thêm sức mạnh của nó; nhà huyền thuật hãy tiếp tục như thế cho đến khi công việc đầy đủ. Bấy giờ các vị kiến tạo bên ngoài hãy ngưng công việc của các ngài, và những vị phụng sự bên trong hãy bắt đầu chu kỳ của họ.

1. Việc Kiến Tạo Hình-Tư-Tưởng.

2. Các Bí Huyệt, Các Năng Lượng, và Các Cung.

3. Năng Lượng Cảm Dục và Sự Sợ Hãi.

4. Việc Sử Dụng Đúng Đắn Năng Lượng.

5. Kỷ Nguyên Hiện Tại và Tương Lai.

6. Việc Thành Lập Thánh Đoàn.

7. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

8. Chiêm Tinh Học và Các Năng Lượng.

 QUI LUẬT MƯỜI

VIỆC KIẾN TẠO HÌNH TƯ TƯỞNG (LVHLT, 273)

Trong Qui Luật Mười, hai sự kiện về hình tướng được trình bày, vốn đúng thực cho tất cả mọi hình tướng, và ba huấn thị mạnh mẽ được đưa ra trong các thuật ngữ sau:
Các sự kiện là:

1. Hình tướng hấp thu và sử dụng nước mà nó bị chìm ngập trong đó.
2. Kết quả là sức mạnh của nó tăng trưởng. Ba huấn thị là:
1. Nhà huyền thuật hãy tiếp tục việc xây dựng hình tướng của mình cho đến khi tiềm lực thích hợp của nó được đảm bảo.
2. Khi đó “các nhà kiến tạo bên ngoài” hãy ngừng công việc lại.
3. “Các nhà xây dựng bên trong” hãy bắt đầu chu kỳ của họ. (LVHLT, 273)

+ Hình Tư Tưởng Và Việc Mang Thai Thai Nhi: Hình Tư Tưởng…… Điều này diễn ra khá sớm trong công việc và sau khi diễn trình định hướng công việc kiến tạo tiến hành, vì hình tư-tưởng vẫn chưa sẵn sàng cho một cuộc sống độc lập. Có một tương đồng thực sự giữa thời kỳ thai nghén của trẻ sơ sinh, với thời kỳ phát triển của một hình-tư-tưởng. Tầm quan trọng của việc sắp xếp đúng đắn đứa trẻ trong dạ-con không bao giờ bị bỏ sót bởi một bác sĩ giỏi, và một cách tương tự, khi có vị trí sai trên con đường phải được noi theo trong sự sống biểu lộ, thì cái chết và sự rắc rối thường hay xảy ra.

– Chúng ta hãy chọn các sự kiện (Hình hài Thai Nhi và Hình Hài Thái Dương hệ)  và các tương tự như chúng đang có, và nghiên cứu chúng theo cả hai quan điểm của đại-thiên-địa lẫn tiểu-thiên-địa.
Chúng ta lưu ý rằng hình hài hấp thu và sử dụng các chất mà trong đó nó được nhúng vào. Thái-dương-hệ chúng ta là một trong nhiều thái-dương-hệ, và không phải là thái dương-hệ lớn nhất. Nó chỉ là một mảnh của tổng thể lớn hơn. Cái tổng thể lớn hơn này, gồm bảy phần (hay là bảy thái dương-hệ), bản thân nó bị ngập trong nước của không gian, được sinh ra do sự mong muốn (desire) và do đó, là một đứa con thiết yếu (child of necessity). Nó thu hút sự sống của nó từ môi trường xung quanh nó. Các dòng thần lực tuôn vào thái-dương-hệ chúng ta từ mọi phía, phát ra từ Đấng mà bộ sách Luận Về Lửa Càn Khôn gọi là “Đấng Bất Khả Tư Nghị”. Các luồng này tiêu biểu cho ý chíước muốn của Ngài, biểu hiện lòng bác ái của Ngài, tức năng lực thu hút, và biểu lộ dưới hình thức của hình-tư-tưởng vĩ đại mà chúng ta gọi là thái-dương-hệ chúng ta. (LVHLT, 273)

+ DĨ THÁI: Chúng ta đã tạo ra một thuật ngữ mà chúng ta gọi là dĩ thái (ether). Nói theo huyền linh học, đây là cách hiện đại để diễn đạt “nước của không gian (“waters of space”), vốn là khối nước của ham muốn (waters of desire), mà chúng ta bị chìm ngập trong đó. Nó lên xuống liên tục và là luồng sự sống, được tạo thành với bốn mươi chín loại năng lượng, đang tuôn đổ qua hoa sen chân ngã vũ trụ, và (tỏa ra từ nó) cung cấp theo mức độ của nó để nuôi dưỡng hình tướng – thuộc thái dương, thuộc hành tinh, hoặc thuộc con người − mà nó chịu trách nhiệm. Điều này được bàn đến trong bộ sách “Luận Về Lửa Càn Khôn”.

Con người bị chìm ngập trong các mãnh lực mà đối với y như là nước của không gian đối với thái-dương-hệ chúng ta. Con người nhận thấy bản thân y, giống như mặt trời và các hành tinh đi kèm mặt trời cũng nhận thấy như thế, tạo nên một phần của một tổng thể, và giống như thái-dương-hệ của chúng ta chỉ là một trong bảy thái-dương-hệ, được thu hút lại nhau tạo thành một thể (body), …

Đưa sự tương đồng xuống gần hơn nữa, bản thân giới nhân loại là một trạng thái tâm thức tương đồng với đơn vị con người qua sự tồn tại của mãnh lực chủ quan của nó (its subjective force existence), và theo quan điểm của tâm thức, nó cung cấp “nước của không gian” mà một con người phát triển và tăng trưởng trong đó…. (LVHLT, 275)

Ở đây có một lời, và là một gợi ý. Một cách tượng trưng, Thánh Đoàn của hành tinh tạo thành bí huyệt đầu của nhân loại, và các thần lực của các Ngài tạo thành các lực của bộ não. Trên cõi trần có một nhóm lớn những người tìm đạo, các đệ-tử dự bị và các đệ-tử chính thức, họ đang tìm cách để đáp ứng với “bí huyệt đầu”, một số có ý thức, một số vô thức. Họ được tập hợp từ mọi lĩnh vực biểu lộ, nhưng tất cả đều sáng tạo theo cách này hoặc cách khác. Đến lượt họ, họ tạo thành những gì có thể được gọi một cách tượng trưng là “tuyến tùng quả” của nhân loại. Giống như trong con ngườibiệt, tuyến này thường không hoạt động và ở trạng thái hôn thụy, cũng thế, trong nhân loại, nhóm các tế bào trong não của thể kết hợp này không hoạt động, nhưng dao động theo các rung động của bí huyệt đầu – tức Đại Đoàn huyền linh (the occult Hierarchy). Một số tế bào đã thức tỉnh. Hãy để chúng tăng cường nỗ lực của chúng và nhờ thế đánh thức các tế bào khác. Những người tiên phong của gia đình nhân loại, các nhà khoa học, nhà tư tưởng và các nghệ sĩ tạo thành tuyến yên. Họ biểu lộ trí cụ thể nhưng lại thiếu nhận thức trực giácchủ nghĩa lý tưởng vốn sẽ đặt họ (nói tượng trưng) vào tuyến tùng quả; tuy thế họ lỗi lạc, biểu cảm và có óc khám phá. Mục tiêu của Thánh Đoàn (lại nói một cách tượng trưng) là làm cho tuyến tùng quả mạnh lên và, do đó, có tính thu hút đến nỗi tuyến tùng quả của những sự sống tế bào có thể được kích thích, và nhờ đó mang lại một sự tương tác chặt chẽ. Điều này sẽ dẫn đến tác động mạnh mẽ đến nỗi sẽ có một luồng chảy của các tế bào mới tới tuyến tùng quả, và đồng thời một phản ứng mạnh mẽ được thiết lập đến nỗi toàn bộ thể sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến luồng đi lên của nhiều sự sống được kích thích để thay thế cho những sự sống đang tìm đường tiến vào trung tâm nỗ lực của Thánh Đoàn (LVHLT, 277)

+ CẤU TẠO VẬT CHẤT CỦA CON NGƯỜI (LVHLT, 281)

+ Phía sau hình tướng bên ngoài của một con người, chịu trách nhiệm cho việc tạo ra nó, duy trì nó và sử dụng nó, chúng ta đều biết, linh hồn,. Phía sau của mọi hoạt động để thúc đẩy sự tiến hóa của con người, cũng như đối với các diễn trình tiến hóa khác, Thánh Đoàn. Cả hai tiêu biểu cho các trung tâm năng lượng; cả hai hoạt động theo Thiên Luật một cách sáng tạo, cả hai tiến lên từ hoạt động chủ quan đến sự biểu lộ khách quan, và cả hai đáp ứng (theo trình tự vĩ đại của các sự sống có phân cấp) với việc truyền sinh khíkích thích từ các trung tâm năng lượng cao hơn. Một số trong những yếu tố, mà đệ-tử phải học cách nhận ra khi chuỗi các kiếp sống đặc biệt của y bộc lộ ra, rơi vào hai nhóm chính, mỗi nhóm mang khía cạnh hình tướng của y dưới tác động của bảy loại năng lượng, hay ảnh hưởng. 

1. Đầu tiên có nhóm các mãnh lực có liên quan hoàn toàn đến khía cạnh hình hài, đó là công việc của các Đấng Kiến Tạo bên ngoài, và đó là những yếu tố nổi bật, ngay đến tận giai đoạn Con Đường Dự Bị. Đây là những mãnh lực có sẵn trong chính vật chất; chúng liên quan đến bản chất xác thân và có thể được liệt kê như sau:

– Các lực vật chất. Các lực này là do sự sống của các tế bào vốn cấu thành thể. Sự sống tế bào này đáp ứng với sự sống tế bào của môi trường chung quanh. Đừng bao giờ quên rằng nhà huyền linh học luôn luôn nhìn thấy sự tương quan giữa các yếu tố trong chính y, và các yếu tố tương ứng trong môi trường chung quanh mình.

2. Các lực cần cho sự sống. Các lực này thường được những người duy vật xem là vô hình và do đó không quan trọng chút nào. Nhưng nhà huyền linh học xem môi trường dĩ thái như là một hình thức hay khía cạnh của vật chất, và cũng tương đối hữu hình như hình thể khách quan bên ngoài.
Đối với người này, chất ether của không gian, mà tên gọi tất nhiên bao gồm hình hài dĩ thái của tất cả các thể, thể tình cảm có tri giác (emotional sentient body) và thể trí, được cấu tạo bằng chất trí, tất cả các thể đó đều là vật chất và là chất liệu của khía cạnh sắc tướng của sự sống. Với tính cách là cơ sở của sự hiểu biết chính xác, cần nên lưu ý rằng sự sống tế bào mà chúng ta đã đề cập ở trên, được phối kết, được tạo ảnh hưởng và được cấp sinh khí bởi dòng máu, hệ thống phức tạp đó thấu nhập vào mọi phần của thể, chịu trách nhiệm cho sức khỏe của thể, và chứng minh, theo một cách chưa được thực sự hiểu rõ, sự kiện rằng “máu là sự sống”. Máu là một trạng thái của năng lượng, cũng như nhựa cây trong giới thực vật.
Hệ thần kinh giao cảm, bộ máy cảm giác kỳ diệu đó, có liên quan mật thiết với thể tình cảm hay cảm-dục. Sự tiếp xúc được thực hiện xuyên qua huyệt đan điền (solar plexus), giống như sinh khí, đang chi phối tính chất của dòng máu, thực hiện sự tiếp xúc của nó xuyên qua trái tim. Trung tâm của sự sống ở cõi trần là ở trong tim. Hệ não tủy hoạt động trong mối quan hệ mật thiết với chitta hay là chất trí. Do đó chúng ta phải xem xét như sau:

1. Sự sống tế bào… Dòng máu …Bí huyệt timTuyến ức (Thymus gl.)
2. Sự sống cảm giácHệ thần kinh giao cảmBí huyệt đan điền… Tụy tạng
3. Sự sống trí tuệ… Hệ não tủyBí huyệt ấn đườngTuyến yên
4. Sự sống thiết yếu…Bảy bí huyệt… Lá lách

Như bạn thấy, điều này chi phối các biểu lộ của tứ hạ thể (quaternary), nhưng có những khía cạnh khác của nhân loại vốn biểu lộ qua hình hài khách quan, và bổ túc cho toàn bộ con ngườitạo thành bảy khía cạnh của sự sống khách quan đa dạng của con người.

5. Hữu ngã  thức… Thượng nãoBí huyệt đầuTuyến tùng quả
6. Tự biểu hiện… Hạ nãoBí huyệt cổ họngTuyến giáp trạng
7. Tự trường tồn… Các cơ quan sinh dụcBí huyệt xương cùng… Cơ quan sinh sản
8. Tự khẳng  định… Toàn bộ con ngườiBí huyệt đáy xương sốngTuyến thượng thận

Bạn sẽ chú ý rằng tám yếu tố được liệt kê ở đây, và chính ở đây mà nhiều trường phái đi lệch hướng. Đề mục “sự sống thiết yếu” (“vital life”) là một đề mục có tính toàn diện, nhưng cần phải nhớ rằng nó liên quan hoàn toàn đến việc truyền sinh khí cho thể của con người qua khía cạnh thấp nhất của các bí huyệt. Sự sống thiết yếu này của vũ trụ vật chất đi vào thể con người qua lá lách.
Các bí huyệt có ba chức năng chính:
− Thứ nhất, truyền sinh khí cho thể xác.
− Thứ hai, mang lại sự phát triển ngã thức trong con người.
− Thứ ba, truyền chuyển năng lượng tinh thần và cuốn toàn bộ con người vào một trạng thái hiện tồn tâm linh. (LVHLT, 285)

Việc liệt kê ở trên do đó có thể được sắp xếp theo thứ tự sau đây. Bảng này dành cho con người như y được dự kiến trở thành, chứ không phải như y hiện giờ trong diễn trình tiến hóa của y

TTTiêu đềBộ phận thểBí huyệtTuyến
1Sự tự khẳng định (sự phát triển đầy đủ)Tứ hạ thể được phối kếtBí huyệt ở đáy cột sốngTuyến thượng thận.
2Sự tự thể hiện (hoạt động sáng tạo)Hạ nãoBí huyệt cổ họngTuyến giáp trạng
3Sự sống hữu-ngã-thức (phàm-ngã)Thượng nãoBí huyệt đầuTuyến tùng quả
4Sự tự tồnCác cơ quan sinh dụcBí huyệt xương cùngTuyến sinh dục
5Sự sống trí tuệHệ não tủyBí huyệt ấn đườngTuyến yên.
6Sự sống cảm giácHệ thần kinh giao cảmBí huyệt đan điềnTụy tạng
7Sự sống tế bàoDòng máuBí huyệt timTim
8Điểm thứ tám, sự sống thiết yếu, hoạt động qua bảy bí huyệt và toàn bộ hệ thống các luân xa thứ yếu và các nadis (nằm bên dưới các dây thần kinh và là lý do cho sự tồn tại của chúng vì các trung tâm này làm bằng các tuyến) là trung gian của nhiều mãnh lựcnăng lượng, − một số hoàn toàn vật chất, số khác liên quan đến Anima Mundi, tức Linh Hồn Thế Giới, và một số nữa cho đến nay không được biết, vì chúng sẽ chỉ làm cho sự hiện diện của chúng được cảm thấy về sau trong chương trình tiến hóa. Khi đó chúng sẽ biểu lộ thiên tính, năng lượng của Chúa Cha hay là trạng thái cao nhất.

Cần lưu ý rằng bảng biểu trên phác họa sự khai mở của cung hai, và cũng lưu ý rằng cái ngã được nói đến là sự tự nhận thức về Chân Nhân. Khía cạnh thấp nhất của sự sống thiết yếu của Thượng Đế là sự duy trì hình thái (species), và đây là kết quả của sự sinh động (livingness) của Sự Sống nhập thể……Sau cùng, chúng ta có sự khẳng định hoặc sự biểu lộ đầy đủ của bản thể thiêng liêng. Rất kỳ lạ là điều này chỉ có thể xảy ra khi bí huyệt thấp ở cột sống được khơi hoạt, khi năng lượng của bản chất vật chất, bằng một tác động của ý chí, được đưa lên Cõi Trời, và do đó, khi toàn bộ bản chất − tính vật chất, tính nhạy cảm hoặc tính tâm thông, và trạng thái tồn tại − được hợp nhất và được nhận thức. Hãy tham thiền về những lời này, vì chúng bao hàm sự toàn bích trong chừng mực mà nhân loại có liên quan (LVHLT, 287)

+ Câu châm-ngôn huyền bí : “Quyết chí (nguyện, to will), hiểu biết (tri, to know), dũng cảm (cảm, to dare) và im lặng (mặc, to be silent)”, có một ý nghĩa đặc biệt cho đến nay không được tiết lộ và Tôi chỉ có thể gợi ý về nó mà thôi. Những ai trong các bạn có được tri thức bên trong thì sẽ hiểu được ngay.
– Quyết chí (nguyện). Những lời này liên quan đến sự thành tựu cuối cùng, khi, bằng một tác động của ý chí được kết hợp của linh hồn và của phàm-nhân, sự hợp nhất và sự nhận thức được xảy ra. Nó liên quan đến bí huyệt ở đáy cột sống.
– Hiểu biết (tri). Những lời này liên quan đến bí huyệt Ấn Đường, tức là bí huyệt giữa hai lông mày. Một ẩn ý nằm trong các chữ “Mong cho Mẹ biết được Cha”. Nó có liên quan đến cuộc phối ngẫu (marriage) trên các cõi Trời.
– Dũng cảm (cảm). Những lời này cung cấp manh mối cho sự tuân phục của phàm nhân, và có một mối liên quan mật thiết với huyệt đan điền, nơi tiếp nhận và phân phối vĩ đại của dục vọng và của các mãnh lực cảm dục, và cũng là trung tâm chính của hoạt động chuyển-hóa.
– Im lặng (mặc). Cụm từ này liên quan đến sự chuyển-hóa của năng lượng sáng tạo thấp thành sự sống sáng tạo cao hơn.
* Bí-huyệt xương cùng phải lại rơi vào im lặng.

Kế đó, đối với vị đệ-tử, các bí huyệt sau đây sẽ được thấy là hết sức quan trọng:
1. Bí huyệt ấn đường, qua đó phàm nhân đã được thanh luyện tự biểu lộ chính mình.
2. Bí huyệt ở đáy xương sống, vốn là bí huyệt mà qua đó sự kiểm soát hoàn toàn và đầy đủ cùng với sự phối kết được đạt đến, thông qua việc khơi hoạt tác dụng thanh lọc của lửa.
3. Bí huyệt xương cùng, trong đó mãnh lực cơ bản của thái-dương-hệ riêng biệt của chúng ta, tức lực hấp dẫn của hình hài đối với hình hài, được chuyển hóa, và lực hấp dẫn của linh hồn thay thế cho hoạt động tạo tác sinh sản của vật chất (productive creative material activity).
4. Bí huyệt đan điền (solar plexus centre), nằm ở trung tâm của thểlà cơ quan của thể cảm dục và của thông linh thuật (psychism) bậc thấp, tập hợp tất cả các mãnh lực hạ đẳng lại với nhau và tái định hướng chúng dưới sự thúc đẩy của linh hồn vào kho lưu trữ cao hơn của chúng.
Tôi hiểu rằng giáo lý được đưa ra ở đây vừa sâu xa vừa khó hiểu, nhưng giáo lý đó cần thiết cho số ít, và con số những người đó sẽ tăng lên theo thời gian. (LVHLT, 288)

Tôi đưa ra bảy bí quyết (keys) cho mỗi phương pháp của các cung. Các bí quyết này có thể được nghiên cứu liên quan đến các bảng ở trên và liên kết với bốn từ ngữ mà chúng ta đã đang xem xét. Chúng ta phải nhớ rằng:
+ “Nguyện” (“To Will”) là đặc quyền của Tinh Thần,
+ “Tri” (“To Know”) là chức năng của Linh Hồn,
+ “Cảm” (“To Dare”) là nhiệm vụ của phàm-ngã,
+ còn “Mặc” (“To Be Silent”) là thiên chức cuối cùng hay số phận của khía cạnh vật chất, của bản chất động vật trong sự tương tác của nó với linh hồn(LVHLT, 288)

Cung 1: “Các Thần Lực hãy cùng đến với nhau. Chúng hãy leo tới Chốn Cao Thâm, và từ chốn cao cả đó, linh hồn hãy nhìn ra trên một thế giới đã bị phá hủy. Kế đó, linh từ hãy phát ra: ‘Ta vẫn kiên trì !’”
Cung 2: “Mọi sự sống hãy được lôi cuốn đến Trung tâm, và nhờ thế nhập vào Tâm của Bác Ái Thiêng Liêng. Rồi từ điểm của Sự Sống tri giác đó, linh hồn hãy nhận ra tâm thức của Thượng Đế. Linh từ hãy phát ra, vang dội qua sự im lặng:
‘Không gì hiện hữu trừ Ta’ (‘Naught is but Me’).”
Cung 3: “Đạo quân của Chúa, đáp ứng với linh-từ, hãy chấm dứt các hoạt động của họ. Tri thức hãy kết thúc trong minh-triết. Điểm đang rung động hãy trở thành điểm yên lặng, và mọi đường lối hãy tập hợp thành Một. Linh hồn hãy nhận ra Đấng Duy Nhất trong Vạn Hữu và linh từ hãy phát ra trong sự hiểu biết hoàn hảo: ‘Ta là Người Làm Việc và là Công Việc, là Đấng Duy Nhất vốn Hằng Hữu’ (‘I am the Worker and the Work, the One that Is’)”.
Cung 4: Cái vinh quang bên ngoài hãy qua đi và vẻ đẹp của Linh Quang bên trong hãy tiết lộ Đấng Duy Nhất. Cái bất hòa hãy nhường chỗ cho cái hài hòa, và từ trung tâm của Linh Quang ẩn tàng, linh hồn hãy lên tiếng: Linh từ hãy ngân lên: ‘Sự mỹ lệ và vinh quang không che lấp Ta. Ta vẫn được hiển lộ. Ta hiện hữu’.”
Cung 5: “Ba hình thức năng lượng điện hãy chuyển lên đến Chốn Quyền Lực. Các mãnh lực của đầu và tim và tất cả các khía cạnh thấp hãy pha trộn lại. Kế đó, linh hồn hãy nhìn ra trên một thế giới bên trong của ánh sáng thiêng liêng. Linh từ đắc thắng hãy phát ra: ‘Ta đã chế ngự năng lượng vì ta là Bản Thân năng lượng. Chủ Nhân (The Master) và kẻ bị làm chủ chỉ là Một (One)’.”
Cung 6: “Mọi ham muốn hãy kết thúc. Sự khát vọng hãy chấm dứt. Việc tìm kiếm đã xong. Linh hồn hãy nhận ra rằng nó đã đạt đến mục tiêu, và từ lối vào đó dẫn đến Sự Sống vĩnh cửu và An Bình vũ trụ, linh từ hãy phát ra: ‘Ta là người tìm