All posts by Quản Trị Biên Tập

" Phụng sự mà biết mình đang phụng sự thì chưa phải phụng sự " Ghi trong Menu tổng: Người dùng, Menu con: Hồ sơ của bạn

Đối Trị Năm Triền Cái – Thiền Phật Giáo

ĐỐI TRỊ NĂM TRIỀN CÁI TRONG THIỀN ĐỊNH
Thích Giác Chinh

Đầu tiên, thiền sinh bước vào giai đoạn hành thiền là tạm thời đè nén chúng để đắc thiền-na và phát Tuệ minh sát, là 2 yếu tố then chốt cho việc đoạn trừ Năm triền cái, bước tiếp theo thiền sinh dần dần chế ngự chúng một cách vĩnh viễn qua công phu phát triển Bát Chánh Đạo.

Triền Cái tức là ngăn che. Năm chướng ngại ngăn che làm cho hành giả thực hành thiền không thấy được tâm an tịnhxả ly và giải thoát. Theo kinh nghiệm của Đức Thế Tôn thông qua bài KinhTứ Niệm Xứtoàn bộ pháp hành đưa đến Giác ngộ có thể được diễn tả như một nỗ lực để vượt qua năm chướng ngại này. Năm chướng ngại đó là:

1.  Tham dục (Kamachanda),

2.  Sân hận (Vyapada),

3.  Hôn trầm (Thiramiddha),

4.  Trạo cử (Udhaccakukucca),

5.  Nghi ngờ (Vicikiccha).

Khi tâm không được tu tập nghiêm túc và không an tịnh thì thường bị Năm triền cái này chi phối, và không thể tiến bộ trong công phu thiền quán. Hành thiền là tu tập đoạn trừ Năm triền cái và thay thế bằng Năm thiền chi (Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc và Nhất tâm).

+ Nhờ Tầm (duy trì tỉnh thức nơi đối tượng) đối trị được Hôn trầm – Thụy miên;

+ Nhờ Tứ (an trú vững chắc nơi đối tượng) đối trị được Nghi;

+ Nhờ Hỷ (hân hoanvui mừngđối trị được Sân;

+ Nhờ Lạc (an lạcđối trị được Trạo cử

+ Nhờ Nhất tâm (an địnhđối trị được Tham dục.

Vì vậy, trọng việc thực hành Thiền định, đoạn trừ Năm triền cái tức là đã chặn đứng một cách vĩnh viễn chướng ngại chính cản trở sự thành tựu Thiền-na và phát triển Tuệ giác. Lộ trình tu tập giải thoát là sự trải qua của những quá trình thấy rõ các khía cạnh vô thường của Năm chướng ngại, chúng nguy hiểm, khổ đau và không có tự ngã.

2.  Đối tượng của tu thiền là loại bỏ năm triền cái

2.1.Tham dục: 

Đối tượng thứ nhất của hành thiền là Tham dục, là sự tham muốn các tham ưu ở đời. Tu tập đoạn trừ Tham dục là đi ra khỏi các tham ưu ở đời. Dục(kāmanày gồm có năm loại:

(i)- Sắc dục, tức là tham đắm về nét đẹp liên hệ đến thân vật lý hoặc cảnh trần;
(ii)- Thanh dục: Tham đắm âm thanh như du dương trầm bổng hoặc tiếng vừa ý liên hệ đến nhĩ căn;
(iii)- Hương dục: Tham đắm về mùi liên hệ đến tỷ căn;
(iv)- Vị dục: Tham đắm về vị ngọt liên hệ đến thiệt căn;
(v)- Xúc dục: Tham đắm về xúc chạm liên hệ đến thân căn.

Theo Kinh Ví Dụ Con Rắn (số 22) trongTrung Bộ KinhĐức Thế Tôn đã khẳng định các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn” và đưa ra 10 ảnh dụ về sự nguy hiểm của dục:

“... (i) ví như khúc xương; (ii) ví như một miếng thịt; (iii) ví như bó đuốc cỏ khô; (iv) ví như hố than hừng; (v) ví như cơn mộng (vi) ví như vật dụng cho mượn; (vii) ví như trái cây (viii) ví như lò thịt; (ix) ví như gậy nhọn; (x) ví như đầu rắn, vui ít khổ nhiều, não nhiều và do vậy, nguy hiểm càng nhiều hơn“.

Những ức chếlòng ham muốn, sự sinh ra những cảm giác mong ước tìm kiếm khoái lạc trong những hoạt động sắc dục hoặc và bao gồm lòng ham muốn thay thế các cảm giác khó chịu, đau đớn bằng các cảm giác dễ chịu; sự nảy sinh theo sau dục khởi này là lòng ham muốn được có cảm giác thoải mái. Trong một quá trình nảy sinh và biến thiên của các hoạt động tâm tiêu cực như thế, những cảm giáccảm xúc dấy lên trong tâm, hành giả nhiệt tâm, tinh cầntỉnh giác trong hơi thởthở rathở vào biết chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tínhnhận biết chúng là thế gian hay xuất thếbiết tính vô thườngcủa chúng, hành giả vượt ra các tham ưu ở đời.

Vì sao thiền sinh không nếm được hỷ, lạc của thiền vị? Vì các dục khởi lên bên trong các hoạt động của tâm và quấy nhiễu làm cho tâm và thân xao động, cuốn theo các cảm thọVì vậy trong khi hành thiền là hành giả đang đối diện với tâm của mình. Quán Tâm là chú ý đến các tâm pháp đang hiện hànhbiết nó là tham hay vô tham, sân hay vô sân, si hay vô si (các hoạt động của Tâm sở), để chặn đứng các tâm hành; ở đây là những tâm hành Tham dục.

Khi thực tập, định sẽ có mặt do quán hơi thở, khi được tu tập, được làm cho sung mãn tức là an tịnh. Sự tỉnh giác trong hơi thởthở rathở vào, cũng như tỉnh giác trong bốn oai nghi của thân (đi, đứng, nằm, ngồi)Tỉnh giác trong mọi hoạt động của thân thểquán sát 32 phần thân thểquán sát yếu tố tạo thành thân cũng như quán tử thiThiền sinh trú chánh niệmtỉnh giácThiền sinh khi đi tới, khi đi lui, đều tỉnh giác; khi nhìn tới, khi nhìn lui, đều tỉnh giác; khi co cánh tay, duỗi cánh tay, đều tỉnh giác; khi đắp y, khi mang y bát, đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai nếm, đều tỉnh giác; khi đi tiểu tiện, đại tiện, đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, đều tỉnh giácThiền sinh vượt qua lòng tham dục bằng cách buông xả mọi quan tâm về thân thể và hoạt động của năm giác quanbiết rõ sự nguy hiểm của dục. Đến đây thiền sinh nên khéo léo phát khởi ý niệm về hạnh phúcan lạc của Thiền định và sự cần thiết của một căn bản Thiền định để đi sâu vào tuệ giác; chính trạng thái tâm hành tích cực này là niềm phấn khởi hân hoan đi vào Thiền định, dễ dàng buông thả dục lạc rơi lại phía sau.

Như vậy, trong một quá trình kiểm soát thân-tâm có mặt của thiền lực và chánh niệm thiền sinh nếm được hỷ-lạc nhờ có tỉnh giác. Đến đây, thiền sinh vui hưởng hạnh phúc hỷ lạc của Thiền-na (jhana)nhờ biết xả ly các quan tâm về thân và năm giác quan của nó. Sự nảy sinh tuệ giác theo sau pháp vị Thiền-na. Vì vậy, trong bài Kinh Tứ Niệm XứĐức Thế Tôn nói tu tập đoạn trừ Tham dục là đi ra khỏi các tham ưu ở đời, nghĩa là “ly dục, ly ác pháp bất thiện pháp”.

2.2.Sân hận

Chức năng của việc đem tâm an trú vào các tầng thiền-na (jhana), một chi phần Chánh Định của Bát Chánh Đạo là để đoạn tận tất cả năm Triền cái để giúp triển khai tuệ giác của thiền lực trong quá trình thực hành. Nhưng vì định lực và thiền lực không mạnh mẽ và đầy đủ nên tâm hướng theo các hoạt động hướng ngoại, gây nên sự tham ưu và thù oán hoặc nảy sinh ý niệm tự ngã, làm cho sân phiền não xâm chiếm tâm.

Đến đây, thiền sinh đối mặt với Sân hận triền cái, là bức màn của sân nhuế ngăn che thiền hỷ dẫn đến sự phát khởi sự tham ưu ở đời. Chỉ cho trạng thái mong muốn và khao khát báo thù, gây khổ hoặc thù ghét một người hoặc một hoàn cảnh nào đó, ở mức vi tế của nó là đề cao bản thân, lòng tự ngã, tự ti hoặc mặc cảm của mình. Thiền sinh liền bị vướng vào vòng xoáy của nóng giận, bứt rứt và khó chịu, các cảm thọ này tiêu diệt sự an tịnh và mát mẻ của thân tâm. Một biểu hiện tâm sân hận thứ hai, song song hoặc tìm ẩn với trạng thái trên trong khi hành thiền chính là tâm hành chối bỏ, sự chán ghét vào chính đối tượng thiền quán; vì sân nhuế chế ngự tâm tạo ra một năng lực mãnh liệt, mê hoặc và hấp dẫn tâm hành giả lang thang qua các nơi khác hoặc bỏ rơi sự chú tâm của ta vào đề mục chính.

Chính lúc hành thiền chưa đủ thiền lực hoặc trong các hoạt động đi, đứng, nằm, ngồi hàng ngày chưa dồi dào chánh niệm làm phát sinh một loạt tâm lý vội vã, nôn nóng, nóng giận và ghét bỏ, v.v… Hãy cẩn thận, khéo léo định tâm vào hơi thởhơi thở vào, hơi thở ra một cách điều hòa, an tịnhtừ từ sân nhuế được nhìn thấy rõ ràng hơn và hành giả nhận thấy được sự nguy hiểm của sân phiền nãohành giải phát khởi tâm từ và chánh niệm quán chiếu tham ưu của các tướng trạng tâm lý chúng vô ngãvô thườngTiếp theothiền sinh chú tâm vào hơi thở có tầm có tứ thì thiền hỷ sẽ phát sinh. Như thế, khi có sân hận trỗi dậy, sự quán chiếu bi mẫn sẽ giúp ta thấy được lỗi lầm của chính mình, khuyến khích ta tự tha thứ cho chính mình, giúp ta học được bài học đó rồi buông xả chúng. Sự từ bỏ đến ngay sau khi thấy rõ sự nguy hiểm của những gì đang ràng buộc chúng ta, đang trói buộc tâm thức chúng ta. Chính lúc thiền sinh luôn luôn giữ chánh niệm tỉnh giác trên ý niệm của hiện tại lại chính là thiền lực để nuôi dưỡng niềm vui hỷ thiền nhằm đối trị sân nhuế phiền não.

Nghệ thuật của sự chế ngự cơn giận để có an bìnhtự do và hạnh phúc đích thực chính là sự nhận diệnchuyển hóabuông xả và phát khởi tình thương. Sự nảy sinh tuệ giác theo sau pháp vị bi mẫn trong thiền vị, đi ra khỏi các tham ưu ở đời.

2.3. Hôn trầm

Hành Thiền, nếu bạn không giữ được chánh niệmtỉnh giác thì bạn sẽ rơi vào một trong ba trạng thái tâm lýtrạo cửhôn trầm và vô ký. Trạng thái tâm lý mệt mỏiuể oải, lười biếng, buồn ngủ khi ngồi Thiền gọi là trạng thái hôn trầm thụy miên, trong một vài trường hợp thiền sinh ngủ hẳn đi một lát. Ở giai đoạn này, khi Thiền sinh theo dõi một đối tượng trong khoảng thời gian khá lâu, sự theo dõi có thể lơi dần, yếu dần, rồi mất dần luôn sự kiểm soát. Khi ấy, tâm lý của hành giả chìm vào hôn trầmTrạng thái tâm lý này sẽ ngăn trở bước tiến thực hành Thiền định, vì tuệ tri và tuệ giác không có mặt, lâu dần bào mòn sự an tịnh của thân tâmVượt qua đối tượng này, thiền sinh cần nỗ lực đi ra khỏi hôn trầm.

Cần một chút tỉnh giác và tinh tấn để nhận diện ra được cơn hôn trầm đang diễn ra. Trong khi hành thiền, nó làm cho ta chỉ có những giác niệm rời rạc, yếu ớt và từ đó đưa đến sự ngủ gục trong lúc thiền mà ta lại không biết. Khi biết mình đang bị hôn trầmthiền sinh liền thức tỉnh tìm cách đi ra. Đừng lo lắng hoặc chán nản, hãy theo dõi và quán niệm hơi thở, thiền lực sẽ dần có mặt nhờ sự theo dõi chú tâm và chánh niệm; để sự chú ý ngay trên đỉnh đầu một lát cho đủ tỉnh táo, rồi tự đánh thức mình ngay, khởi niệm nỗ lực ngay, trở về theo dõi chuyên sâu vào hơi thở vào ra một cách đều đặn.

Trong quá trình hành thiền và phát triển tuệ giác, các thiền sinh không chỉ cố mà hành thiền là sẽ hiệu quảkinh nghiệm cho thấy cần một số tham khảo từ các bậc thầy Thiền sư hoặc các bài kinh liên quan đến thiền định mà Đức Phật đã giảng dạy, đó là con đường thiền định mà Thế Tôn đã đi qua. Ở đây, Một số phương pháp đối trị hôn trầm mà Thế Tôn đã dạy cho Tôn giả Mục-kiền-liên trong Tăng Chi 3A, tr 85-86, bản dịch của HT. Minh Châu, 1981, có thể tham khảo và vận dụng như sau:

i.  Khi hành thiền đang ở tưởng nào mà thụy miên kéo đến thì rời khỏi tưởng ấy, đừng tác ý đến tưởng ấythụy miên sẽ tan đi.

ii. Nếu rời khỏi tưởng ấy mà thụy miên vẫn còn, thì tư duy các giáo lý đã nghe, đã học thuộcThụy miên sẽ bị loại trừ.

iii. Nếu tư duy như thế mà thụy miên vẫn không tan, thì đọc tụng Pháp như đã nghe, đã học thuộc. Thụy miên sẽ bị loại trừ.

iv. Nếu thực hiện như vậy mà thụy miên vẫn chưa tiêu, thì sẽ kéo mạnh hai lỗ tai và lấy hai tay xoa bóp tay, chân cho tỉnh.

v. Nếu làm như thế mà thụy miên vẫn tồn tạithì sẽ rời khỏi chỗ ngồi Thiền, ra ngoài lấy nước mát rửa mặt, nhìn về phía phương trời xa xăm sáng sủa, hay nhìn lên các vì sao (nếu về đêm), thụy miên sẽ tan mất.

vi. Nhưng nếu các biện pháp trên không có kết quả, thì hãy tác ý tưởng đến ánh sáng, tưởng ban ngày. Như thế, với tâm mở rộng, không hạn chếtu tập tâm chói sáng, sẽ là tiêu tan hôn trầm.

vii. Nếu tưởng ánh sáng… không có kết quả, thì hãy đi kinh hành, tác tưởng trước mặt và sau lưng, để tâm hướng nội, thụy miên sẽ bị loại trừ.

viii. Nếu các biện pháp đối trị khi ngồi, khi đứng, khi đi không có hiệu quảthì hãy nằm theo dáng nằm của sư tử, nghiêng về hông phải, đôi chân gác lên nhau, giữ chánh niệm các tưởng thức dậy thật maukhông khởi niệm ham thích nằm ngủan trú như vậy, thụy miên sẽ tiêu tán.

Một đoạn tóm lược ngắn kinh nghiệm đối trị hôn trầm mà Đức Thế Tôn đã dạy cho Tôn giả Mục-kiền-liên hầu hết được các trường thiền ứng dụng, với mỗi hành giả độc lập cũng có thể ứng dụng phương pháp này.

Đó là một quá trình nhận diệnchuyển hóa và thoát ra khỏi cơn hôn trầm của một thiền sinh thiện xảo. Khi đang theo dõi một đối tượng, nhưng đối tượng không được liên tục bỗng lững quên đi một chốc, đánh mất sự kiểm soát của thân và tâm, không nhận diện được đề mục là lúc hành giả bị rơi vào hôn trầm. Chỉ cần tỉnh giácđịnh tâm vào hơi thởHơi thở chạm xúc vào lỗ mũi hay môi trên là nơi dễ theo dõi nhất. Ở đây, chúng ta chỉ quán niệm vào hơi thởhơi thở có chạm xúc, mà không quán vào sự chạm xúc. Quán niệm hơi thở nầy đưa thiền sinh đến chánh niệm vững mạnh và có tuệ giác tri, liền đi ra khỏi hôn trầm ấy ngay.

Mặt khác, trong khi hành thiền sự vi tế của các trạng thái tâm cũng có thể đưa hành giả đến trạng thái vô ký. Nó là một trạng thái tâm lý không phải là tỉnh giác, không phải trạo cử, cũng không phải là hôn trầm mà chỉ hơi ngã về hôn trầm gọi là trạng thái vô ký. Không khéo tỉnh thức và chú ý đến niệm lực thì trạng thái tâm lý khờ khờ mà tâm không có khả năng ghi nhận vì có thể ngỡ là đang tỉnh táothiền sinh cần quán niệm tỉnh giác đánh thức mình đi ra khỏi trạng thái ấy ngay, đừng lầm lẫn nó với trạng thái tâm lý lắng đứng, an tỉnh. Vì Vô ký là biểu hiện của si tâm, tướng biểu hiện bên ngoài của hành giả là tướng trơ lặng hay thân tướng lắc lưChỉ cần tỉnh giác theo dõi hơi thở vào ra thì tâm lý vô ký lặn mất ngay.

Theo kinh nghiệm của Đức Thế Tôn dựa trên bài Kinh Tứ Niệm Xứhành giả cần nhận thức rằng: Với ai khi trú, quán thân trên thân mà hoặc thân sở duyên khởi lên, hoặc thân nhiệt não, hoặc tâm thụ động, hoặc tâm phân tán hướng ngoại, đó là vị ấy không biết nơi trú, không biết quán thân trên thân, đưa đến kết quả tệ hại; do vậy, vị ấy cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín. Do vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tínhân hoan (trong Tứ Niệm Xứ Kinh ghi nhận đó là: Thắng hỷ: pàmujjam) sinh ra. Người có lòng hân hoanhỷ sinh ra. Người có lòng hỷ, thân được khinh an. Người có lòng khinh anlạc thụ sinh. Người có lòng lạc thụ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như sau: “Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được. Nay ta rút lui (patisamharàmi) khỏi đối tượng tịnh tín”. Vị ấy rút lui, không tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: “Không tầm, không tứ, nội tâm chính niệm, ta được an lạc”.

Nghệ thuật nhận diện sự an tịnh của cái thấy và cái biết trong khi hành thiền để làm cho cái tâm trở nên tinh nhuệ chính là sự nhận diện được tác nhân và biết được đối tượng của chúng một cách rõ ràngtu tập chánh niệm tỉnh giác nhiếp phục tham ưu ở đời.

2.4. Trạo cử (Giao động)

Nếu trong khi hành thiền, thiền sinh không thể dừng tâm vào một đối tượng đã chọn như ý muốn, tâm cứ chạy dài từ đối tượng này qua đối tượng khác, thì đấy là trạng thái tâm lý dao động, hay gọi là trạo cử. Cũng cần biết thêm ở đây là có khi thiền sinh không thể nhận rõ được năm thiền chi (ở đây là thiền chi Lạc, vì nhờ Lạc đối trị được Trạo cử), là vì lúc đó, thiền sinh vẫn còn bị các triền cái (nivarana) ngăn che trong giai đoạn này đó là trạo cửTrạo cử là một tâm lý, gây trở ngại, ngăn cách với Thiền định. Nó là một tâm hành tiêu tốn nhiều năng lượng, vì nó diễn ra bên trong các hoạt động của tâm lẫn sự khuấy động của thân, thiền sinh cần nỗ lực vượt qua trạng thái tâm lý này.

Khi vừa nhận ra mình đang trạo cử, liền dừng suy tư, để sự chú ý theo dõi hơi thở vào ra một cách chuyên chú cho đến khi cảm thấy vừa ổn và nhận biết hơi thở một cách rõ ràng, tâm ghi nhận các hoạt động của hiện tại có mặt thiền sinh nhận diện sự có mặt của trạo cử; đến đây, thiền sinh có thể tiếp tục theo dõi hơi thởThiền chỉ hay trở ngại tư duy nếu thấy cần thiết. Lúc này, niệm lực của chánh niệm đã trở về lại, làm cho hành giả ý thứcghi nhận được sự lay động của thân tâm. Với những ai bị dao động nhiều bởi tư duy lúng túng của mình, thì chỉ nên theo dõi hơi thở hay hành Thiền chỉ trong một thời gian khá lâu trước khi có thể đi vào Thiền quán, hay chỉ quán song tu.

Đến đây, niệm lực và tâm ghi nhận vẫn chưa mạnh mẽ, dẫn đến sự xuất hiện của tâm hành vi tế trạo cử bên trong dòng tâm thức. Khi kiểm soát được sự trạo cử thô bên ngoài hành giả trở về đề mục thiền định, những lo nghĩưu tư của khởi lên tìm cách đi ra khỏi các kiết sử (thân, kiến, nghi, giới cấm thủ, dục, sân, hữu áivô hữu ái, mạn, trạo cửvô minh) là một hình thức trạo cử vi tế bên trong tâm hànhTheo như Kinh Đại Niệm Xứ thì trạng thái tâm lý trạo cử nào dù thô hay tế cũng chướng đạo, cũng ngăn che giải thoát cả, hành giả cần nhiếp tâm chánh niệmtỉnh giác để đi ra. Theo dõi một cách chuyên chú vào hơi thở vào ra, đình chỉ các ý niệm lao xao và chánh niệm tỉnh giác là biện pháp đối trị trạo cử một cách hữu hiệu.

Một lối sống thiểu dụctri túc và biết ơn trong đời sống hàng ngày giúp ích nhiều cho việc hành thiền và cắt đứt trạo hối. Sự trạo cử do lương tâm cắn rứt là vì hành nghiệp của lối sống không giới đức, các thiền sinh tập sống tử tế, khôn ngoan và dịu dàng sẽ làm cho thực lực của hỷlạc nhanh chóng có mặt trong lúc hành thiền. Một người không có đạo đức hoặc sống buông lung thì không thể nào có được các kết quả sâu sắc trong khi hành thiền.

Nuôi dưỡng và biết trân quý giây phút hiện tại chính là nghệ thuật của sự biết ơn. Lòng biết đủ và biết quý trong lúc này giúp cho thiền sinh nhận diện được thiền chi Lạc thiền, là thiền lực trong giai đoạn tiếp theo cho mỗi hành giả đoạn trừ sự lang thang trôi nổi.

2.5. Nghi ngờ

Vì sao thiền sinh hành thiền lúc thì biết rằng thực tập liên tục sẽ đưa tới trí tuệ và giải thoát; nhưng có lúc cũng nghĩ rằng không biết tu tập sẽ được gì, đó chính là sự xuất hiện của Nghi triền cái. Sự nghi ngờ ngăn che và vây phủ tuệ tri của thiền giả. Vì không nhận ra được mục tiêu và con đường của hành thiền nên hành giả không thể nào có sự tập trung tư tưởng. Một câu hỏi được đặt ra: Lý do tại sao nghi ngờ triền cái có mặt? Vì trong quá trình học Pháp, nghe Pháp và hành Pháp thiếu vắng sự tư duy chân chánh và Chánh kiến về Pháp; chỉ khi nào có Chánh kiến và nếm được Pháp vị thắng hỷ, tức là tịnh tínhân hoan (đã được Đức Phật đề cập trong Tứ Niệm Xứ Kinh), lưới nghi sẽ được tháo bỏ.

Khi hành giả nhận diện được nghi ngờ triền cái đó chính là lúc sự từ bỏ đến ngay sau khi thấy rõ sự nguy hiểm của những gì đang trói buộc tâm thức chúng ta. Sự phát triển tư duy chân chánh và Chánh kiến có mặt cao lớn hơn lại đến ngay sau sự từ bỏ các ý niệm và hiện tại đang là. Trong lúc này, thiền sinh an trú tâm vào đối tượng và đi sâu, suy xét kỹ đối tượng, nhờ đó không còn nghi hoặc. Tâm cần quán sát và ghi nhận rằng sự tư duy được kéo dài ra hay tư duy được duy trì tức là sự có mặt của thiền chi Tứ; nhờ sự duy trì liên tục lên đối tượng, trú trên đối tượng nên niệm lực được rõ ràng và dứt trừ lưới nghi.

Trong khi hành thiền, nghi ngờ hoàn toàn tan biến khi tâm thức có đối tượng để ghi nhậntin tưởng vào sự vắng lặng là không còn gây rối loạn với các đối thoại, tạp niệm bên trong. Kinh nghiệm của tuệ tri chỉ ra rằng những gì hiện hành ra bên ngoài hoặc trong tâm thức chính là kết quả của sự thấy sâu sắc cái nguy hiểm của cảnh giới vừa đi ra. Nghi ngờ cũng có tướng trạng của một quá trình của các khía cạnh vô thường, quan trọng là sự ghi nhận sự biểu hiện của các tâm hành trong giây phút hiện tạiHành giả không mệt mỏi, bước đi những bước đi đầy tỉnh giác, hứng khởi, an tịnh và giải thoát trên con đường thiền định.

Ở giai đoạn này, hành giả cần có sự học Pháp một cách sâu sắc, bằng cách học và thực tập hai chi phần quan trọng trong Bát chánh đạo, đó là Chánh kiến và Chánh tư duy để nhận ra được sự an tịnh và giải thoát. Trong Kinh Tương Ưng Bộ, Thiên Đại PhẩmTương Ưng Đạo, Đức Phật định nghĩa Chánh tri kiến và Chánh tư duy như sau: “Thế nào là chánh tri kiến? Này các Tỷ-kheo, chính là trí về khổ, trí về khổ tập, trí về khổ diệt, trí về con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tri kiến. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy? Này các Tỷ-kheo, chính là xuất ly tư duyvô sân tư duyvô hại tư duy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tư duy”.

Ứng dụng hai chi phần này trong lúc hành thiền tức là thiền sinh cần ổn định dứt khoát rằng pháp Niệm hơi thở vào hơi thở ra tự nó đã là pháp đối trị với các thứ vọng động, loạn tưởng (theo như kinh nghiệm của Đức Thế Tôn trong bài Kinh Tứ Niệm Xứ); đó chính là chánh niệm, pháp tu ấy dẫn đến định, có nghĩa là đi ra khỏi mọi thứ loạn động, loạn tưởng.

Nghệ thuật của sự an lạc và hạnh phúc chính là sự ghi nhận và buông xả. Nói cách khác, buông xả là buông xả tham ái và chấp trước mọi pháp được tác thành, được làm ra. Không còn nghi ngờ gì nữa hành giả đang bước đi trên con đường đạo, con đường đó là sự tự do đích thực.

3. Kết quả và lợi ích

Thực tập thiền định bằng phương pháp Quán niệm hơi thở là phương pháp đi thẳng vào tâm thức bằng nghị lực và ý chí của chính mình. Đó là con đường của sự nhận diện các tâm hành trong giây phút hiện tại, nó rất thiết thực và rất hiện tại. Khi tham dục và chấp thủ được buông xảđịnh lực và tuệ giác tự có mặt. Một khi từ bỏ năm triền cái và duy trì được sự an định này trong khoảng thời gian đủ dài thì thiền sinh sẽ vào Cận định (upacāra); và sẽ vào An chỉ định (appanā) khi đã làm cho sung mãn (phát triển dồi dàonăm thiền chi:

+ Tầm (duy trì tỉnh thức nơi đối tượng),

+ Tứ (an trú vững chắc nơi đối tượng),

Hỷ (hân hoanvui mừng),

+ Lạc (an lạc)

+ Nhất tâm (an định). 

Thiền sinh không thể nhận rõ được năm thiền chi trên, là vì lúc đó thiền sinh vẫn còn bị các triền cái (nivarana) ngăn che. Thiền sinh phải xét duyệt từng triền cái một, để xem chúng còn vương vấn trong tâm trong lúc hành thiền hay không. Chúng cần phải được loại bỏ thì việc đắc thiền mới thành tựu.

Chúng ta có thể rút ra từ kinh nghiệm tu tập đối tượng của thiền một bài học vô vàn quý giá rằng: nếu hành giả luôn luôn giữ chánh niệm tỉnh giác trên ý nghĩa như thật của các đối tượng; chúng có tướng trạng, chúng vô thường và tướng trạng đó luôn luôn không có tự ngã, chúng tập nghiệp khổ đauhành giả sẽ vượt nhanh qua được các ngăn cản trong Thiền định, sẽ hoàn toàn đoạn trừ được các cảm thọlạc, khổ và các tưởng đi đến các cảm thọ lạc, khổ, sẽ hoàn toàn được tịnh chỉ.

Một kết quả thiết thực trong việc đối trị năm triền cái đó là việc tu tập nằm ở chỗ an trú trong chánh niệm về KhổVô thườngVô ngã của các pháp để xả ly tham ái và chấp thủ. Nghệ thuật của hạnh phúc là sự giải thoát khổ đau có mặt ngay trong sự buông xả.

(Bài pháp học và pháp hành ứng dụng trong Thiền định được học và ứng dụng tại Pháp Thuận Thiền Viện – Dharma Meditation Temple, Valley Center, San Diego County, California, USA).

Trân trọng,

An vui với Lòng từ,

Khất sĩ Thích Giác Chinh.

Xem nguồn: Đối trị năm triền cái (trướng ngại; Ngăn che) trong Thiền định

Chương Tóm Lược Các Định Luật Và Định Đề

CHƯƠNG MỞ ĐẦU
TÓM LƯỢC CÁC ĐỊNH LUẬTĐỊNH ĐỀ

Các Định luật và Đình đề vũ trụ trích từ các sách của Chân sư và Hiền triết.

1. Định luật Chu Kỳ chi phối mọi biểu lộ, dù là biểu lộ của một Thái Dương Thượng Đế qua một Thái Dương hệ, hay là biểu lộ của con người qua hình hài. Định luật này cũng kiểm soát trong mọi giới của thiên nhiên.

2. Có một số định luật khác trong Thái Dương Hệ được liên kết với định luật này;
a. Định luật Tiết Kiệm (Law of Economy)… định luật chi phối vật chất, Ngôi Ba.
b. Định luật hấp dẫn (Law of Attraction)… định luật chi phối Linh hồn, Ngôi Hai.
c. Định luật Tổng hợp (Law of Synthesis)… định luật chi phối tinh thần, hay Ngôi Một.

3. Ba định luật này là định luật vũ trụ. Có 7 định luật thuộc Thái Dương Hệ đang chi phối sự biểu lộ của Thái Dương Thượng Đế chúng ta:
a. Định luật Rung động (Law of Vibration)
b. Định luật Kết hợp (Law of Cohesion)
c. Định luật Phân tán (Law of Disintegration)
d. Định luật Kiểm soát Từ điển (Magnetic Control)
e. Định luật Qui định (Law of Fixation)
f. Định luật Bác Ái (Law of Love)
g. Định luật Hy sinh và Tử Vong (Law of Sacrifice and Death)

4. Mỗi một trong các định luật này biểu lộ chủ yếu trên một cõi này, hoặc cõi khác trong 7 cõi của Thái dương hệ.

5. Mỗi định luật hoạt động theo chu kỳ và mỗi cõi có chu kỳ biểu lộ và chu kỳ qui nguyên của nó.

6. Mỗi sự sống biểu lộ đều có 3 chu kỳ lớn :
Khai sinh (Birth) Linh hoạt (Life) Tử Vong (Death)
Xuất hiện Tăng trưởng Biến mất
Giáng hạ tiến hoá Thăng thượng tiến hoá Qui nguyên
Bất động Hoạt động Chuyển động nhịp nhàng
Sự sống tĩnh tại Sự sống sinh động Sự sống nhịp nhàng

7. Việc hiểu biết về các chu kỳ bao gồm việc hiểu biết về con số, âm thanh và màu sắc.

8. Chỉ có các Chân Sư hoàn thiện mới có được sự hiểu biết đầy đủ về bí nhiệm của các chu kỳ

* 5. Định luật Tương Ứng sẽ giải thích các chi tiết của mối liên quan này. Định luật Tương Ứng hay Tương Đồng này là định luật giải thích của Thái dương hệ và giải thích Thượng Đế cho con người. Trích: Luận Về Lửa Càn Khôn _ tr 32, 33

Hướng Dẫn: Hành Tinh, C. Hoàng Đạo – Các Nhà

CÁC HƯỚNG DẪN TỔNG QUÁT: PHÂN TÍCH CÁC
HÀNH TINH, CÁC DẤU HIỆU HOÀNG ĐẠO TRONG
CÁC NHÀ

GENERAL GUIDELINES: THE PLANETS AND SIGNS
THROUGH THE HOUSES
(Trích dịch từ THE TWELVE HOUSES của Howard Sasportas
In every corner of my soul, there is an altar to a different god.
Fernando Pessoa

Ideally, every factor in the chart should be interpreted in the light of the whole
chart; it is only then that the true significance of that placement can be appreciated
in relation to the broader pattern of an individual’s being and becoming. However,
as a step or aid in the process of ultimately synthesizing all the important factors
in the horoscope, this part of the book explores the possible interpretations of the
different planets and signs through the houses. The suggested meanings are by no
means conclusive, nor are they intended to be taken as gospel. It is hoped,
however, that the information given (most of which is drawn from personal
experience) will generate further thought and insight into the various and
numerous ramifications of each placement.

Lý tưởng nhất, mọi yếu tố trong lá số nên được diễn giải dưới ánh sáng của toàn bộ
lá số; chỉ khi đó, tầm quan trọng thực sự của vị trí đó mới có thể được đánh giá đúng
trong mối liên hệ với mô hình rộng lớn hơn của sự hiện hữu và tiến hoá của một cá
nhân. Tuy nhiên, như là một bước hoặc một hỗ trợ trong quá trình tổng hợp tất cả
các yếu tố quan trọng trong lá số chiêm tinh, phần này của cuốn sách tìm hiểu
những giải thích khả dĩ của các hành tinh và dấu hiệu khác nhau thông qua các
nhà. Các ý nghĩa được đề xuất hoàn toàn không hàm ý kết luận, cũng không có ý
định được coi là phúc âm. Tuy nhiên, người ta hy vọng rằng thông tin được cung
cấp (hầu hết được rút ra từ kinh nghiệm cá nhân) sẽ tạo ra thêm suy nghĩ và hiểu
biết sâu sắc hơn về những phân chia khác nhau của mỗi vị trí.
Nguyên tắc chung cho việc diễn giải các hành tinh trong các nhà – General

Guidelines for Interpreting Planets in the Houses
What exactly does a planet (or planets) situated in a house show or suggest? To
answer this, we need to recall that the astrological birthchart portrays
symbolically how an individual’s drives and urges are apt to express themselves.
Like the seed of a plant or a tree, it contains a blueprint of what the fully developed
person could grow into or become. The chart tells us something about the nature
of the seed, as well as offering some general indications about the process of the
seed’s unfoldment. On this basis, the birth map can be understood as a set of
instructions showing how a person can most naturally actualize his or her
potential.

Chính xác thì một hành tinh (hoặc các hành tinh) nằm trong một nhà hiển thị hoặc
gợi ý điều gì? Để trả lời điều này, chúng ta cần nhớ lại rằng lá số chiêm tinh miêu tả
một cách tượng trưng cách thức các động lực và các thúc giục của một cá nhân
thể tự thể hiện. Giống như hạt giống của một cây, nó chứa bản thiết kế về những gì
người phát triển đầy đủ có thể phát triển thành hoặc trở thành. Lá số cho chúng ta
biết một vài điều về bản chất của hạt giống, cũng như đưa ra một số chỉ dẫn chung
về quá trình phát triển hạt giống. Trên cơ sở này, lá số sinh có thể được hiểu là một
tập hợp các hướng dẫn cho thấy cách một người có thể hiện thực hóa tiềm năng
của mình một cách tự nhiên nhất.

Bearing this principle in mind, we can infer three basic guidelines for interpreting
a planet in a house:
1. When a planet is located in a house, the function or activity represented by the
planet finds its most natural area of expression in the field of experience referred
to by that house. The sign in which the planet is placed gives further information
about how this activity can be approached.
2. The reverse is also true: the area of life designated by the house in which a planet
falls is most naturally dealt with and handled in accordance with the type of
activity represented by the planet there.
3. A planet in a house also shows the nature of the archetypal principle we are born
already expecting to encounter through that area of life or facet of experience. It is
the kind of energy we are innately predisposed to perceive or meet in that domain.
It is the a priori image of that sphere of life which exists right from birth.

Ghi nhớ nguyên tắc này, chúng ta có thể suy ra ba nguyên tắc cơ bản để diễn giải
một hành tinh trong một nhà:
1. Khi một hành tinh được đặt trong một nhà, chức năng hoặc hoạt động được
đại diện bởi hành tinh đó tìm thấy khu vực biểu hiện tự nhiên nhất của nó trong
lĩnh vực kinh nghiệm được đề cập bởi nhà đó. Dấu hiệu trong đó hành tinh được
đặt cung cấp thêm thông tin về cách hoạt động này có thể được tiếp cận.
2. Điều ngược lại cũng đúng: khu vực của sự sống được chỉ định bởi nhà mà hành
tinh ở trong đó được đề cập và xử lý một cách tự nhiên nhất theo loại hoạt động
được đại diện bởi hành tinh đó.
3. Một hành tinh trong một nhà cũng cho thấy bản chất của nguyên tắc nguyên
mẫu mà chúng ta sinh ra đã mong đợi gặp phải thông qua lãnh vực của cuộc sống
hoặc khía cạnh của kinh nghiệm. Đó là loại năng lượng mà chúng ta có xu hướng
nhận thức hoặc gặp gỡ trong lĩnh vực đó. Đó là một hình ảnh tiên nghiệm của lãnh
vực cuộc sống tồn tại ngay từ khi sinh ra.
Hướng dẫn chung về diễn giải Các Dấu Hiệu Hoàng Đạo trong Các Nhà –

General Guidelines for Interpreting Signs in the Houses
Sign placements are slightly more complicated than planetary placements in
relationship to the houses. Firstly, there will always be a particular degree of a
certain sign on the cusp or beginning point of each house. In the example shown
in Figure 15 , 11 degrees of Cancer is on the cusp of the 1st house; 29 degrees of
Cancer on the cusp of the 2nd house; 20 degrees of Leo on the cusp of the 3rd house,
etc. We would then associate the principles of Cancer with what the 1st house
represents; the principle of Cancer will also influence the 2nd house (even though
only one degree of Cancer remains in the 2nd it is still associated with that house
because of its cuspal position there); the principles of Leo would operate in the 3rd
house, etc.
However, if we look closely, we will see that there is a variety of ways in which a
sign may appear in a house:

Vị trí của dấu hiệu hoàng đạo phức tạp hơn một chút so với vị trí hành tinh trong
mối quan hệ với các nhà. Thứ nhất, sẽ luôn có một độ cụ thể của một dấu hiệu nhất
định trên cửa hoặc điểm bắt đầu của mỗi nhà. Trong ví dụ hiển thị trong Hình 15,
11 độ của Cự Giải nằm trên cửa của nhà thứ 1; 29 độ Cự Giải trên cửa nhà thứ 2; 20
độ Leo trên cửa của nhà thứ 3, v.v. Sau đó, chúng ta sẽ liên kết các nguyên tắc của
Cự Giải với những gì nhà thứ 1 thể hiện; nguyên tắc của Cự Giải cũng sẽ ảnh hưởng
đến nhà thứ 2 (mặc dù chỉ còn một độ của Cự Giải còn lại trong nhà thứ 2 nhưng
nó vẫn được liên kết với nhà đó vì vị trí cửa nhà 2 ở đó); các nguyên tắc của Leo sẽ
hoạt động trong nhà thứ 3, v.v.
Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn kỹ, chúng ta sẽ thấy rằng có nhiều cách mà một dấu
hiệu hoàng đạo có thể xuất hiện trong một nhà:

Fig. 15 Eliot, born 29 April 1953, 09:00 CET (-1), Florence, Italy (43N46, 11E15)
1. Some portion of a sign may be in a house even if it is not on the cusp of the house.
In the example chart, Cancer is on the cusp of the 2nd, but much of the sign of Leo
is there as well. Therefore, the 2nd house will be associated not only with a Cancer
influence but also with a Leo influence. Usually the influence of the sign on the
cusp is considered more important even if more of the next sign is present in that
house.

1. Một số phần của một dấu hiệu có thể ở trong một nhà ngay cả khi nó không nằm
trên cửa của nhà. Trong lá số ví dụ, Cự Giải ở trên cửa của nhà thứ 2, nhưng phần
lớn dấu hiệu Leo cũng ở đó. Do đó, nhà thứ 2 sẽ không chỉ liên quan đến ảnh hưởng
của Cự Giải mà còn với ảnh hưởng của Sư Tử. Thông thường, ảnh hưởng của dấu
hiệu trên cusp được coi là quan trọng hơn ngay cả khi có dấu hiệu tiếp theo xuất
hiện trong nhà đó.
2. If, as in the case of the Quadrant systems of house-division, the same sign falls
on two successive house cusps, then all of another sign will be intercepted in
another house. This means that a house begins with one sign on the cusp, has the
next sign intercepted or totally contained within the house, and has the following
sign completing the house. There are then three signs influencing an intercepted
house (again the sign on the cusp is usually the most important influence). In the
example chart, Cancer and Capricorn are both on the cusp of two houses (the 1st
and 2nd, and 7th and 8th respectively). Consequently we can look for other houses
with intercepted signs. In this case, the 5th house begins with 23 degrees of Libra
on the cusp, has all of Scorpio intercepted in it, and ends with the first few degrees
of Sagittarius. A similar situation exists with the opposite signs in the opposite
house, the 11th.

2. Nếu, như trong trường hợp hệ thống phân chia nhà Quadrant, cùng một dấu
hiệu ở trên hai cửa của hai nhà liên tiếp, toàn bộ một dấu hiệu khác sẽ bị chặn ở
trong một nhà khác. Điều này có nghĩa là một nhà bắt đầu bằng một dấu hiệu trên
cửa, có dấu hiệu tiếp theo bị chặn hoặc hoàn toàn được chứa trong nhà, và dấu hiệu
tiếp theo hoàn thành nhà đó. Khi đó, có ba dấu hiệu hoàng đạo ảnh hưởng đến
một nhà bị chặn (một lần nữa, dấu hiệu trên cửa nhà thường là ảnh hưởng quan
trọng nhất). Trong lá số ví dụ, Cự GiảiMa Kết đều ở trên cửa của hai nhà (lần lượt
thứ 1 và thứ 2, thứ 7 và thứ 8). Do đó, chúng ta có thể tìm kiếm những nhà khác có
dấu hiệu bị chặn. Trong trường hợp này, nhà thứ 5 bắt đầu với 23 độ Thiên Bình
trên cửa, có toàn bộ Hổ Cáp bị chặn trong đó, và kết thúc với một vài độ Nhân
đầu tiên. Một tình huống tương tự tồn tại với các dấu hiệu ngược lại ở nhà đối diện,
nhà 11.

The guidelines for interpreting a sign (or signs) in a house are similar to those for
interpreting a planet in a house, except that it should be remembered that the sign
on the cusp of the house is considered more important than other signs that might
be in that house:
1. The sign or signs in a house find their most natural area of expression in the field
of experience referred to by that house.
2. The sign or signs in a house indicate the types of experiences which allow the
native to best realize his or her potential in that field of life.
3. The sign or signs in a house also suggest what kind of archetypal energies the
person is predisposed to expect in that area of life.

Các hướng dẫn để giải thích một dấu hiệu (hoặc các dấu hiệu) hoàng đạo trong một
nhà tương tự như các hướng dẫn để giải thích một hành tinh trong một nhà, ngoại
trừ việc nên nhớ rằng dấu hiệu trên cửa của nhà được coi là quan trọng hơn các dấu
hiệu khác có thể có trong nhà đó:
1. Dấu hiệu hoặc các dấu hiệu hoàng đạo trong một nhà tìm thấy khu vực biểu
hiện tự nhiên nhất của chúng trong lĩnh vực kinh nghiệm được đề cập bởi nhà
đó.
2. Dấu hiệu hoặc các dấu hiệu trong một nhà cho biết các loại kinh nghiệm cho
phép người chủ lá số nhận ra tốt nhất tiềm năng của mình trong lĩnh vực của
cuộc sống.
3. Dấu hiệu hoặc các dấu hiệu hoàng đạo trong một nhà cũng cho thấy loại năng
lượng nguyên mẫu mà người đó có xu hướng mong đợi trong lãnh vực của cuộc
sống.
Chủ Quản của Nhà — House Rulerships

There is another factor to be considered in analysing the influence of planets and
signs in the houses. When a planet is located in a certain house there is a
connection between the affairs of that house and the house or houses in which the
sign(s) that the planet in question rules is placed. For instance, in the example
chart, Venus is in the 10th house; but because Venus is the ruler of both Libra and
Taurus, the 10th house Venus will have an influence on the houses in which Libra
and Taurus are found. In this case, Libra is associated with the 4th house (23
degrees of that sign is there) and the 5th house (the 23rd degree of Libra is on the
cusp). All of Taurus is intercepted in the 11th. So, Venus in the 10th house (career),
through its rulership of Libra and Taurus, will have bearing on the 4th house
(home), the 5th house (children) and the 11th house (groups). This man has
worked (10th) running groups (11th) in his own home (4th) geared to helping
parents relate better (Venus) to children (5th).
To sum up: a planet has an influence on
1. The house in which it is placed.
2. The house on whose cusp is found the sign that planet rules.
3. The house in which any number of degrees of the sign the planet rules is found
(even if the sign the planet rules is not on the cusp).
Generally, the weighting of the influence of the various factors can be taken in the
order given above.

Có một yếu tố khác cần xem xét trong việc phân tích ảnh hưởng của các hành tinh
và dấu hiệu hoàng đạo trong các nhà. Khi một hành tinh ở trong một nhà nhất
định, có mối liên hệ giữa các vấn đề của nhà đó và nhà (hoặc các nhà) mà hành tinh
đó cai quản. Chẳng hạn, trong lá số ví dụ ở trên, Sao Kimnhà thứ 10; nhưng vì sao
Kim là chủ tinh của cả Thiên BìnhKim Ngưu, nên sao Kim nhà thứ 10 sẽ có ảnh
hưởng đến những nhà nơi hai dấu hiệu hoàng đạo Thiên BìnhKim Ngưu được
tìm thấy. Trong trường hợp này, Thiên Bình được liên kết với nhà thứ 4 (23 độ của
dấu hiệu đó ở nhà 4) và nhà thứ 5 (cửa nhà 5 ở 23 độ của Thiên Bình). Toàn bộ Kim
Ngưu bị chặn trong nhà 11. Vì vậy, sao Kim trong nhà thứ 10 (sự nghiệp), thông
qua sự cai quản Thiên BìnhKim Ngưu, sẽ có ảnh hưởng lên nhà thứ 4 (gia đình),
nhà thứ 5 (trẻ em) và nhà thứ 11 (nhóm). Người đàn ông này đã làm việc (nhà 10)
điều hành các nhóm (nhà 11) tại nhà riêng của mình (nhà 4) nhằm giúp cha mẹ
quan hệ tốt hơn (sao Kim) với trẻ em (thứ 5).
Tóm lại: một hành tinh có ảnh hưởng đến
1. Nhà mà nó có mặt ở đó.
2. Nhà mà cửa của nó có dấu hiệu hoàng đạo được cai quản bởi hành tinh đó.
3. Nhà có sự hiện diện của dấu hiệu hoàng đạo được cai quản bởi hành tinh đó (ở
bất kỳ độ nào, ngay cả khi dấu hiệu hoàng đạo đó không nằm trên cửa).
Nói chung, trọng số ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau có thể được xem xét theo
thứ tự nêu trên.
Nhà trống – Empty Houses

Over and over again when teaching astrology to beginners I hear the question
‘What does it mean if a house is empty?’ Some students are very troubled by empty
or untenanted houses – that is, a house in which no planets are found. ‘My 5th
house is empty – does that mean I won’t have any children?’; ‘my 3rd house is
empty – does this mean I don’t have a mind?’
Because there are only ten planets to go around the twelve houses, invariably
certain houses will be untenanted. This does not mean that nothing is happening
in that area of life. Nor does it necessarily imply that the area of life in question is
unimportant.

Khi dạy chiêm tinh cho những người mới bắt đầu, tôi luôn nghe câu hỏi ‘Một nhà
trống rỗng có nghĩa như thế nào?’ Một số sinh viên rất bối rối bởi những nhà trống
rỗng hoặc không có hành tinh ở đó. ‘Nhà thứ 5 của tôi trống không – có phải điều
đó có nghĩa rằng tôi sẽ không có đứa con nào?’ Nhà thứ 3 của tôi trống rỗng – có
phải điều này có nghĩa là tôi không có trí tuệ?’
Bởi vì chỉ có mười hành tinh bố trí trong mười hai nhà, nên sẽ có những nhà nào đó
không có hành tinh. Điều này không có nghĩa là không có gì xảy ra trong lĩnh vực
đó của cuộc sống. Nó cũng không nhất thiết ngụ ý rằng lãnh vực của cuộc sống đó
là không quan trọng.

Strictly speaking it is incorrect to say that a house is empty. Even though there
may be no planets in that house, there is still a sign (or signs) placed there which
will influence that sphere of experience. Thus, the first step in interpreting what is
happening in an untenanted house is to relate the qualities of the sign or signs
found there to the area of life associated with the house in question. The second
step is to refer to the planet which rules the sign on the cusp of the ‘empty’ house.
What house is the ruling planet in? What sign is the ruling planet in? How is the
ruling planet aspected? In this way, we glean a great deal of information about the
house in question. The third step is to examine the planet which rules any other
signs found in that house (not just the sign on the cusp). Where is that planet by
house, sign and aspect?

Nói đúng ra khi nói rằng một nhà trống rỗng là không chính xác. Mặc dù có thể
không có các hành tinh trong nhà đó, nhưng vẫn có một dấu hiệu (hoặc nhiều dấu
hiệu) được đặt ở đó sẽ ảnh hưởng đến phạm vi kinh nghiệm đó. Vì vậy, bước đầu
tiên trong việc diễn giải những gì đang xảy ra trong một nhà không có hành tinh
là liên hệ các phẩm chất của dấu hiệu hoặc các dấu hiệu hoàng đạo được tìm thấy
ở đó với lãnh vực của cuộc sống liên quan đến nhà đang xem xét. Bước thứ hai là
xem xét đến hành tinh cai quản dấu hiệu ở trên cửa của nhà ‘trống rỗng’. Hành tinh
cai quản ở nhà nào, dấu hiệu nào? Chủ tinh đó có góc hợp với các hành tinh khác
như thế nào? Bằng cách này, chúng ta lượm lặt được rất nhiều thông tin về nhà
đang được đề cập đến. Bước thứ ba là kiểm tra