Định Luật Phát Xạ

Các Định Luật - Định Đề Vũ Trụ

 ĐỊNH LUẬT PHÁT XẠ (Law of Radiation).
(Trích LVLCK, 1060 – 1082)

Người ta thấy rằng nhiều thời gian sẽ được dành cho cách diễn tả hoạt động thiêng liêng này hơn là hoạt động nào khác trong tiết này, vì đó là hoạt động hữu ích thực tế nhất. Định Luật Phát Xạ là định luật bắt đầu được các nhà khoa học nhận biết từ khi họ chấp nhận hoạt động phóng xạ của một vài chất, và khi họ sẵn sàng đạt gần được quan niệm huyền linh về phóng xạ, hay là tình trạng phóng xuất, của mọi vật chất ở một điểm đặc biệt trong mức tiến hóa, bấy giờ họ sẽ tiến tới Thực Tại một cách rất dứt khoát.

Phát xạ là hiệu ứng bên ngoài được tạo ra bởi mọi hình hài trong mọi giới khi hoạt động bên trong đạt đến một giai đoạn hoạt động rung động mạnh đến nỗi các vách giam nhốt của hình hài không còn tạo ra ngục tù nữa, mà để cho thoát ra tinh chất bên trong. Nó đánh dấu một mức độ thành đạt đặc biệt trong diễn trình tiến hóa, và điều này cũng đúng đối với nguyên tử vật chất mà nhà hóa học và nhà vật lý đang bận tâm đến, khi đang tác động đến các yếu tố, vì nó thuộc về hình hài trong giới thực vật, các hình hài trong giới động vật, trong giới 1061 nhân loại và cũng trong giới thiêng liêng nữa.
Theo một số góc nhìn, có thể được xem như “hình hài đích thực” (mà về mặt huyền linh, phải được hiểu như là hình thức năng lượng bằng dĩ thái) giúp cho sự hiện hữu của nó được cảm nhận sao cho nó trở nên rõ rệt ngay cả với nhà khoa học.

Ở đây, các nhà nghiên cứu nên nhớ hai điều:

– Thứ nhất, trong mọi kết luận huyền linh học, chính là thể năng lượng mới được bàn đến, và sự sống nội tại đàng sau của hình hài mới được nhận biết như là vô cùng quan trọng.
Thứ hai, chính biểu lộ ngoại cảnh trọng trược, như đã thường được nhắc đi nhắc lại, không được xem như một nguyên khí chút nào; nhà huyền linh học chỉ bàn đến các nguyên khí mà thôi.
Ở đây, có thể là có ích mà nhắc nhở đạo sinh rằng ngoài ra, có ba điều phải được nhận biết trong mọi biểu lộ:
Thứ nhất, chính cái bên ngoài biểu lộ hữu hình, thụ động, có tính tiếp nhận và vô tổ chức về mặt huyền linh, là không có hình hài và tính cách hữu ích nếu không có kèm theo năng lượng bên trong.
– Thứ hai, chính “hình hài thực sự” hay là thần lực – hiện thể (forcevehicle) mới kích hoạt và tạo ra sự cố kết của những gì không được tổ chức.
– Thứ ba, chính “tinh hoa không ổn định” (“volatile essence”) hay là Sự Sống cốt yếu của tinh thần (spiritual essential Life), tự tập trung trong một điểm nào đó bên trong “hình hài đích thực” (1) .Khi nghiên cứu vấn đề hoạt động phóng xạ, chúng ta đang bàn đến hiệu quả được tạo ra bởi tinh hoa bên trong khi nó làm cho sự hiện hữu của nó được cảm nhận qua hình hài, khi hình hài đã được đưa tới một giai đoạn có sự tinh luyện đến nỗi nó trở thành hiện hữu.

Khi nhận thức này được áp dụng cho mọi hình hài trong tất cả các giới, người ta có thể khắc phục các lỗ hổng hiện có giữa các hình thức sự sống khác nhau với “các yếu tố” (“elements”) trong mọi giới, và các trung tâm phát xạ hợp nhất này sẽ được tìm ra. Thuật ngữ “element” cho đến nay được giới hạn vào các vật chất căn bản trong những gì được gọi là vật chất thiết yếu (essential matter), và nhà hóa học lẫn nhà vật lý đều bận tâm đến các sự sống như thế; nhưng sự tương ứng của chúng (theo ý nghĩa huyền môn của thuật ngữ) được tìm thấy trong mọi giới ở thiên nhiên, và có các hình thức sự sống trong giới thực vật mà về mặt huyền linh học, được xem như “phóng xạ” (“radioactive”), cây khuynh diệp (eucalyptus, bạch đàn) vốn là một hình thức đó. Có các hình thức của sự sống động vật cũng ở vào một giai đoạn tương tự và đơn vị nhân loại (khi đơn vị này tiến tới “sự giải thoát” – liberation) cho thấy một hiện tượng tương tự.

Với tư cách một hành tinh hệ gần đến sự thành toàn của nó, lần nữa nó trở thành “phóng xạ”, và nhờ sự phóng xạ (radiation) chuyển di tinh hoa của nó cho một “Hành Tinh hấp thụ” (“absorbent planet”) hoặc các hành tinh khác, như là trường hợp cùng một thái dương hệ. Tinh hoa của nó, hay là Sự Sống đích thực của nó, được hấp thụ bởi một chòm sao tiếp nhận, và “trường hợp” bên ngoài quay về với tình trạng chưa tổ chức ban đầu của nó.
1063 Khi xem xét về định luật phóng xạ, trước hết chúng ta đề cập đến chủ đề nguyên nhân của phóng xạ.

a/ Nguyên nhân của phóng xạ. Nhà nghiên cứu sẽ chỉ có thể có được một cái nhìn đích thực về vấn đề này nếu y xem xét chủ đề theo một cách thức rộng lớn. Đương nhiên hai khía cạnh của vấn đề hiện ra trước tầm nhìn bằng trí của y, cả hai phải được bàn đến nếu bất cứ ý niệm thích hợp nào về vấn đề này cần được đạt đến, – một đề tài đã thu hút các triết gia, các nhà khoa học và các nhà luyện đan từ hàng trăm năm một cách vô tình hoặc hữu ý. Do đó, chúng ta phải xét:
a/ Những gì phát ra phóng xạ.
b/ Những gì là nguyên nhân bên trong của sự phóng xạ.

Có thể nêu ra một cách rất vắn tắt rằng khi bất luận hình hài nào trở nên phóng xạ, thì một số điều kiện đã được hoàn thành và một vài kết quả được mang lại, những điều kiện và các kết quả này có thể được tổng kết như sau:
Hình thức phóng xạ là hình thức tóm tắt lại các chu kỳ đã định của nó, qua vòng sự sống của nó, lớn hoặc nhỏ, nó đã chuyển hướng với tần số thích hợp, sao cho tinh hoa sự sống không ổn định sẵn sàng thoát ra khỏi hình hài đó và hòa nhập chính nó vào trong hình hài lớn hơn mà cái nhỏ chỉ là một phần của hình hài lớn đó. Cần nhớ rằng trong mối quan hệ này mà sự phóng xạ xảy ra khi hình hài dĩ thái hay hình hài đích thực trở nên đáp ứng với một số loại thần lực. Như được hiểu về mặt huyền linh học, sự phóng xạ tự nó không liên quan với việc thoát ra khỏi hình tướng vật chất hoặc trọng trược, mà liên quan đến giai đoạn trong sự sống của bất cứ thực thể sống động (thuộc nguyên tử, con người hoặc thiêng liêng) trong đó thể dĩ thái hay thể sinh lực ở vào một tình trạng đến nỗi nó không còn giới hạn hay ràng buộc sự sống nội tại nữa.

Sự phóng xạ xảy ra khi sự sống độc lập bên trong của bất cứ nguyên tử nào bị hóa giải bởi một thôi thúc mạnh mẽ, hoặc sự lôi kéo, xuất phát từ sự sống vĩ đại hơn đang bao bọc của cơ thể mà nó có thể hợp thành một phần. Tuy thế, điều này chỉ đúng khi nó được tạo nên bởi sự lôi cuốn dựa vào sự sống chủ yếu bởi sự sống cơ bản của hình hài vĩ đại hơn; nó không do mãnh lực thu hút của khía cạnh hình hài của sự sống vĩ đại hơn đó. Một sự phân biệt rất rõ rệt cần được tạo ra ở đây. Chính việc không nhận ra điều này đã đưa rất nhiều nhà nghiên cứu hóa học và nhà khảo cứu khoa học mất phương hướng và thế là đảo ngược/ làm tiêu tán các kết luận của nhiều năm nghiên cứu. Họ lẫn lộn sự thôi thúc của nguyên tử khi đáp ứng với lực hút do rung động từ điển của hình hài mạnh mẽ và có khả năng lĩnh hội hơn với sức lôi cuốn huyền bí đích thực mà một mình nó tạo ra “bức xạ huyền linh” (“occult radiation”), – bức xạ của sự sống cốt yếu ở trung tâm của hình hài mà yếu tố ở dưới sự xem xét có thể có vị trí trong đó. Minh giải việc này ngay từ lúc đầu là điều rất cần. Có lẽ toàn bộ vấn đề có thể trở nên sáng tỏ hơn nếu chúng ta nghiên cứu việc đó theo cách sau đây.

Trong một hình hài (form), nguyên tử xoay trên chính trục của nó, tuân theo động tác xoay riêng của nó, và sống theo cuộc sống bên trong của riêng nó. Điều này liên quan với nhận thức (awareness) ban đầu của nó. Theo thời gian trôi qua, nó trở nên biết được, bằng từ điển, bản chất thu hút của những gì đang bao bọc nó ở mọi phía và trở nên biết được hình hài đang bao bọc nó. Đây là tri thức thứ nhì của nó, nhưng điều đó vẫn còn liên quan tới những gì mà chúng ta có thể, vì thiếu một danh xưng thích hợp hơn, gọi là vật chất (matter). Do đó, nguyên tử này có một tương tác với các nguyên tử khác.

Về sau, nguyên tử trong một hình hài trở nên biết được rằng không những nó chỉ xoay quanh trên trục của nó, mà nó cũng còn tuân theo một quỹ đạo chung quanh một trung tâm lực lớn hơn bên trong một hình hài vĩ đại hơn. Đây là tri thức thứ ba và được tạo nên bởi lực hút từ điển của trung tâm lớn hơn được cảm nhận, như vậy tạo nên một thôi thúc bên trong nguyên tử đang đẩy nó hoạt động bên trong một vài chu kỳ đặc biệt. Hiểu về mặt huyền bí, tri thức này tự nó có liên quan với vật chất hoặc với hình hài đích thực bên trong hình hài lộ ra bên ngoài.

Sau cùng, lực hút của trung tâm lớn hơn trở nên mạnh đến nỗi sự sống tích cực bên trong nguyên tử (bất kể đó có thể là loại nguyên tử nào và thuộc bất cứ giới nào) cảm nhận được lực của năng lượng trung ương đang nắm giữ nó, cùng với các nguyên tử khác kết hợp đầy đủ chức năng của chúng. Năng lượng nhập vào qua vòng-giới-hạn, không gợi ra sự đáp ứng nào từ những gì có thể được gọi là các sự sống điện tử hoặc sự sống tiêu cực bên trong chu vi nguyên tử, nhưng rõ rệt khơi hoạt một đáp ứng từ cái nhân dương thiết yếu của nguyên tử. Điều này do bởi sự kiện rằng sự sống thiết yếu của bất luận nguyên tử nào, tức là khía cạnh tích cực/dương tính cao siêu nhất của nó, bao giờ cũng có bản chất như bản chất của sự sống vĩ đại hơn đang đưa sự sống đó về chính nó. Khi điều này được cảm nhận đủ mạnh, chu kỳ nguyên tử được hoàn tất, hình hài trọng trược bị xua đi, hình hài đích
thực bị tiêu tan, và sự sống trung ương thoát ra để tìm điểm tập trung từ lực lớn hơn của nó.

Qua tiến trình này (vốn được thấy khắp thái dương hệ trong tất cả các bộ môn của nó) mọi nguyên tử đến lượt trở thành một điện tử. Vào thời điểm thích hợp của cơ tiến hóa, sự sống dương của bất cứ nguyên tử nào cũng trở thành sự sống âm đối với sự sống vĩ đại hơn hướng về những gì mà nó bị thúc đẩy hoặc lôi cuốn, và thế là diễn trình tiến hóa đưa mọi sự sống lúc nào cũng xuyên qua bốn giai đoạn liệt kê ở trên. Bên trong ba giới thấp của thiên nhiên, diễn trình được trải qua một cách không chủ ý, theo hàm nghĩa của con người về thuật ngữ đó; điều đó được trải qua một cách có chủ tâm khắp trong giới nhân loại, và trong các lĩnh vực hiện tồn cao hơn, với một tâm thức đang bao bọc mà chỉ có thể được ám chỉ bằng thuật ngữ mơ hồ “nhận thức hữu ngã thức của tập thể”.

Chính các nhà luyện đan thời cổ bận tâm đến tiến trình chuyển hóa này, nhưng ít khi họ đạt đến giai đoạn mà trong đó họ có thể liên hệ chính họ với sự đáp ứng của hai loại năng lượng dương với nhau, và với sự vượt thoát sau đó của mãnh lực dương nhỏ hơn so với trung tâm thu hút lớn hơn của nó. Khi họ đã làm (với một vài ngoại lệ), họ phải đối mặt với một bức tường chết (dead wall), vì mặc dù họ đã thành công trong việc xác định vị trí nguyên tắc phát xạ (radiating principle) trong vật chất, hoặc là trong hình hài đích thực, và đã đạt được kết quả đi xuyên qua (hoặc là vô hiệu hóa) cả thể
1066 xác trọng trược lẫn dĩ thái hình, tuy nhiên họ đã không có nhận thức nào về bản chất của trung tâm lực vốn đang thu hút sự sống mà họ đã quan tâm tới ra khỏi lĩnh vực hợp lý bên ngoài đi vào lĩnh vực hoạt động mới. Một ít người có được tri thức này, nhưng (nhờ nhận thức về mối nguy hiểm của các kết thúc của chúng) đã từ chối khi viết ra kết quả do các khảo cứu của họ.

Nếu các nhà nghiên cứu muốn khảo sát các định luật về chuyển hóa, (1) như đã được hiểu rõ, và nhất là như được kết hợp trong các tác phẩm của Hermes Trismegistus, hãy ghi nhớ điều này một số kết quả lý thú có thể được mang lại. Hãy để cho họ nhớ rằng những gì “tìm kiếm tự do” là tia lửa điện ở giữa; tự do này được đạt đến trước tiên qua các kết quả được mang lại bởi hoạt động của “lửa ma sát” vốn đẩy nhanh rung động bên trong của nó; kế đó bởi công việc dựa vào nguyên tử, hay là vật chất của Lửa thái dương, nó tạo ra:

a. Sự phát triển trên quỹ đạo,
b. Rung động do kích thích,
c. Đáp ứng bên trong được khơi hoạt,
cho đến khi sau cùng lửa điện được tiếp xúc. Điều này đúng với mọi nguyên tử:

a/. Nguyên tử của vật chất,

b/. Nguyên tử của bất cứ hình tướng nào,

c/. Nguyên tử của một giới trong thiên nhiên,

d/. Nguyên tử của một hành tinh,

e/. Nguyên tử của một thái dương hệ.

Trong mọi trường hợp, ba lửa hoặc loại năng lượng đều góp phần của chúng; trong mọi trường hợp bốn giai đoạn được vượt qua, trong mọi trường hợp sự chuyển hóa, chuyển đổi hoặc phát xạ xảy ra, và kết quả của sự đào thoát của năng lượng dương ở trung tâm được đạt tới, và sự thu hút của nó vào một hình hài lớn hơn, được giữ ở chỗ thích hợp trong một chu kỳ đặc biệt bằng một năng lượng mạnh hơn.
Như chúng ta thấy, tiến trình tạo ra phóng xạ tất cả các yếu tố đã làm bận tâm các nhà nghiên cứu qua các thời đại. Các nhà luyện đan của thời Trung Cổ bắt đầu với các yếu tố đơn giản hơn và bắt đầu với giới khoáng chất, đã tìm ra cái bí ẩn của tiến trình giải thoátbiết được phương pháp giải phóng và hiểu được các định luật chuyển hóa. Trong đa số trường hợp, họ không thành công vì dù đã xác định được tinh chất, họ lại không có ý tưởng làm thế nào để xử lý nó khi được phóng ra, lại cũng không (như chúng ta đã thấy) có bất cứ ý niệm nào về từ lực vốn đang kéo tinh hoa đã được giải thoát vào chính nó.

Để hiểu được thiên luật và nhờ đó có thể hoạt động hoàn hảo với thiên luật, nhà nghiên cứu đang thử nghiệm phải có khả năng giải thoát tinh hoa ra khỏi hình hài của nó. Y phải thông hiểu các thần chú và các linh từ, vốn sẽ điều khiển nó đến điểm tập trung đặc biệt đó trong giới khoáng chất, vốn thay thế trong cùng mối liên hệ tương ứng với Chân Thần khoáng chất giống như Ego trên cõi riêng của nó thay thế cho con người mà người này đã thải bỏ các hình hài vật chất và đích thực của mình qua cái chết. Điều này liên quan đến tri thức chỉ được cam kết dành cho đệ tử hữu thệ; nếu các đạo sinh tình cờ vấp vào luật, và biết được tiến trình về mặt lý thuyết, họ thường cẩn trọng không tiến hành thêm nữa cho đến khi họ đã học được cách làm thế nào để bảo vệ chính mình khỏi sự tương tác của các lực. Như chúng ta biết rõ, những người làm việc với chất radium và những người thực nghiệm trong các phòng thí nghiệm trên thế giới, thường chịu đau khổ do mất tay chân hoặc sự sống; đây là do sự thiếu hiểu biết của họ về các lực mà họ đang có dính dáng tới. Các tinh hoa được giải thoát trở thành các tác nhân dẫn truyền (conductors) thần lực lớn lao vốn là trung tâm từ lực của chúng, bởi vì các tinh hoa đó đáp ứng với trung tâm từ lực và chính lực này tạo ra các tình trạng gây tai họa đôi khi hiện diện liên quan với các chất phóng xạ. Qua khả năng dẫn truyền này, mọi nguyên tử phóng xạ đều trở thành một tác nhân phóng rải (releasing agent); và tất nhiên chúng gây nên điều mà chúng ta gọi là cháy bỏng (burns). Các cháy bỏng này là kết quả của tiến trình giải phóng sự sống cốt tử của nguyên tử của vật chất hồng trần đang được bàn tới.

Ở đây có hiện tượng kỳ lạ nên được chú ý, trong giới nhân loại, vốn được gọi một cách sai lầm là kéo dài sự sống (prolongation of life); đúng thực hơn nên được gọi là lưu truyền hình hài (perpetuation of the form). Y khoa ngày nay đang dốc hết mọi nỗ lực để giữ lại sự sống trong các hình hài bệnh hoạn và không còn thích hợp nữa; nếu để mặc cho Thiên Nhiên, thì không bao lâu nữa Thiên Nhiên sẽ vứt bỏ các hình hài này. Như vậy, các hình hài chỉ giam nhốt sự sống, và đè nén tinh hoa sự sống lần này lần khác vào trong thể thấp thay vì để cho giải thoát. Cuối cùng và với tri thức ngày càng tăng, y khoa chân chính sẽ trở nên hoàn toàn có tính chất phòng ngừa. Y khoa đó sẽ tập trung năng lực của nó vào việc duy trì sự sống nguyên tử của nguyên tử nhân loại và khi xúc tiến các tiến trình bảo vệ và phòng ngừa, và việc làm trơn tru theo chức năng của sự sống có chuyển động quay của nguyên tử, như vậy dẫn đến việc noi theo chính xác của quỹ đạo con người. Nhưng việc tiến xa hơn thế sẽ không diễn ra, và khi tiến trình của thiên nhiên diễn ra, khi bánh xe của sự sống ngưng hoạt động, khi giờ giải thoát đã điểm, khi thời cơ đã đến cho việc hoàn lại cái tinh hoa cho trung tâm của nó, lúc bấy giờ công việc sẽ được nhận biết như là hoàn tất, và hình hài được tách ra. Tuy thế, điều này sẽ không thể xảy ra cho đến khi gia đình nhân loại đã đạt đến một giai đoạn mà qua cách sống trong sạch và tư duy trong sáng, các hư hoại hiện có sẽ bị loại trừ. Bấy giờ, con người sẽ hoạt động đến tận tuổi già, hay là cho đến khi Ego, do nhận thức được công việc đặc biệt cần được hoàn thành trong bất cứ một kiếp sống nào, đã được tiến hành đúng lúc, kêu gọi đến tia sáng thấp bé của sự sống và triệt thoái điểm lửa trung ương. Đương nhiên, việc này đòi hỏi sự hiểu biết và các năng lực mà hiện nay hãy còn thiếu.
Tất cả các ý tưởng này đều có thể được mở rộng để bao gồm toàn bộ các giới của thiên nhiên, các bầu của một dãy hành tinh, chính các dãy, một hành tinh hệ hoặc một thái dương hệ.

Mặt trăng là một thí dụ lý thú của tiến trình chuyển hóa hay là tiến trình giải phóng được hoàn tất thực sự trong một bầu: sự sống chính yếu của giới nhân loại đã triệt thoái và đã tìm thấy một lĩnh vực biểu lộ mới. Mọi sự sống động vật cũng được hấp thụ bởi một trung tâm vĩ đại hơn trong một dãy khác. Một cách thực tế, cùng một sự việc cũng có thể được nói về giới thực vật trên mặt trăng mặc dù có một vài các hình thức thấp kém của sự sống thực vật (thuộc một loại mà chúng ta không thể nhận biết được) vẫn còn được tìm thấy ở đó. Trong khi giới khoáng chất bị phóng xạ và tinh hoa của mọi hình hài khoáng chất đang nhanh chóng thoát ra.
Liên quan với các giới của thiên nhiên, cần phải nhớ rằng sự tăng trưởng của chúng và sự phát xạ sau rốt tùy thuộc vào mục tiêu chu kỳ của Hành Tinh Thượng Đế, và tùy vào các luồng thần lực đang tác động vào thể hành tinh của Ngài, và phát ra từ các hệ hành tinh khác.

Mọi nguyên tử đều trở nên phóng xạ như là kết quả của một đáp ứng với một trung tâm từ lực mạnh hơn, đáp ứng này được mang lại qua việc phát triển tiến hóa từ từ của tâm thức thuộc loại này hoặc loại khác. Điều này được biết là hiện thực ở một cấp độ nhỏ có liên quan với giới khoáng chất mặc dù các nhà khoa học chưa thừa nhận rằng sự phóng xạ được tạo ra như thế. Sau này họ sẽ thừa nhận, nhưng chỉ khi nào lý thuyết chung này được đưa ra nơi đây có liên quan với mọi nguyên tử được họ thừa nhận là một lý thuyết đáng tin. Lúc đó mục tiêu nỗ lực của họ sẽ được thay đổi phần nào; họ sẽ tìm cách tìm hiểu chắc chắn qua việc suy tưởng sáng suốt và một nghiên cứu về sự tương đồng phức tạp những gì mà các điểm tập trung của năng lượng có sức thu hút có thể được xem như hiện hữu, và làm thế nào mà chúng tác động đến các nguyên tử ở môi trường chung quanh chúng. Ở đây chỉ có thể đưa ra một gợi ý mà thôi. Ánh sáng dựa vào các vấn đề tối tăm này sẽ đến theo hai hướng.

Thứ nhất, ánh sáng sẽ đến qua việc nghiên cứu vị trí của thái dương hệ trong tổng thể vũ trụ và hiệu quả mà một vài tinh tòa đang có dựa trên ánh sáng đó; thứ hai, ánh sáng sẽ đến nhờ một nghiên cứu chặt chẽ về ảnh hưởng của một hành tinh hệ này trên hành tinh hệ khác và vị trí của mặt trăng trong sự sống hành tinh của chính chúng ta. Điều này sẽ dẫn đến một tìm kiếm chặt chẽ về các tình trạng cực của địa cầu, của các luồng từ lực hành tinh, và của sự giao tiếp về điện giữa Địa Cầu chúng ta với các hành tinh hệ Venus và Mars. Khi điều này đã được hoàn thành, môn thiên văn học và chiêm tinh học huyền bí sẽ được cách mạng hóa, và bản chất của năng lượng mặt trời dưới hình thức một biểu lộ của một Thực Thể thuộc đẳng cấp thứ tư sẽ được đánh giá cao. Điều này sẽ xảy đến vào cuối thế kỷ này sau một khám phá khoa học thậm chí có tầm quan trọng rất lớn cho giới khoa học còn hơn là khám phá về bản chất của nguyên tử. Cho đến lúc đó, sẽ càng khó mà diễn tả ý niệm vật hoạt luận (hylozoistic conception) bằng các thuật ngữ của khoa học chính xác, như thuật ngữ đó được dành cho tổ tiên hồi thế kỷ mười sáu của nhân loại hiện nay, khi hình dung nguyên tử như đơn giản chỉ là một trạng thái của lực, chớ không phải là biểu lộ ngoại cảnh và cụ thể hữu hình. Do đó việc giải thích xa hơn sẽ chỉ làm mơ hồ mà thôi.
Khi xem xét vấn đề phóng xạ rộng lớn này, vốn là kết quả của chuyển động tiệm tiến theo hình xoắn ốc, có thể là lý thú nếu ở đây tôi nêu ra rằng trong mọi giới của thiên nhiên đều có một số điểm tập trung năng lượng mà theo các thiên kỷ dần dần trôi qua, đem vật chất nguyên tử mà tất cả các hình hài trong mọi giới được tạo thành từ đó đến điểm mà chúng trở thành phóng xạ và được giải thoát. (Thuật ngữ “liberation” – giải thoát – thực ra có hàm ý năng lực của bất cứ nguyên tử hữu thức nào khi ra khỏi một lĩnh vực có ảnh hưởng về năng lượng vào một lĩnh vực khác có rung động cao hơn, có phạm vi nhận thức của tâm thức rộng lớn hơn).
– Nói chung, có thể cho rằng:

Giới khoáng chất đáp ứng với loại năng lượng vốn là trạng thái thấp nhất của lửa, của các lò lửa nội tại, chúng phát huy ảnh hưởng trên các yếu tố trong thế giới khoáng chất và chúng phân giải các sự sống nguyên tử này thành một loạt dần dần gồm các loại năng lượng khoáng chất bao giờ cũng cao hơn. Thí dụ, loại năng lượng vốn tác động vào mỏ sắt, hoặc năng lượng tạo ra thiếc, được phát ra từ một trung tâm khác trong cơ thể của Thực Thể đang làm linh hoạt giới khoáng chất thành những gì vốn chuyển đổi các yếu tố này thành các đá quý kỳ diệu, như kim cương, sapphire, bích ngọc (emerald) hoặc hồng ngọc (ruby). Năng lượng của trung tâm đặc biệt có liên quan cũng đáp ứng với mãnh lực bắt nguồn trong trung tâm trong cơ thể của Hành Tinh Thượng Đế – trung tâm nào tùy thuộc vào giới cần được làm cho linh hoạt. Do đó, khi bàn đến các giới này, các liên hệ có thể được nêu ra vắn tắt như sau:

Giới Trung Tâm Hành Tinh
a. Nhân loại ……………………. Bí huyệt tim
b. Động vật ……………………. Bí huyệt cổ họng
c. Thực vật ……………………. Bí huyệt đan điền
d. Khoáng vật …………………. Lá lách

Dĩ nhiên, trung tâm Chân Ngã hành tinh là tác nhân truyền đạt đến mọi trung tâm khác, và liên quan đến điều này, cần nên nhớ rằng mỗi trung tâm đều truyền ba loại thần lực, ngoại trừ lá lách có nhiệm vụ chuyển các lửa thái dươngsinh lực (pranic force), thuần khiết và đơn giản. Sau rốt, các đạo sinh sẽ xác định cách nào để tập hợp các loại khác nhau trong các giới khác nhau tùy theo loại năng lượng mà chúng biểu lộ ở mức độ đầy đủ nhất, nên nhớ rằng chỉ trong giới thứ tư, giới nhân loại, loại cao nhất trong ba loại (loại vốn tạo ra ngã thức) mới đang biểu lộ; trong các giới khác nó còn tiềm tàng. Điều này sẽ trở nên lộ rõ nếu phương pháp biệt ngã hóa ở nguyệt cầu (lunar individualisation) được nghiên cứu.

Giới thực vật đáp ứng với loại năng lượng đặc biệt vốn tạo ra hiện tượng nước hay ẩm ướt. Nhờ hiệu quả của nước, mọi loại sự sống thực vật cao cấp mới tiến hóa, và nhờ sự phối hợp của nhiệt và nước, các kết quả được mang lại, tạo ra các kiểu mẫu mới. Nhà thảo học (chuyên về cỏ), kẻ đang tạo ra các loài mới, thực sự bận tâm với ảnh hưởng của năng lượng tính dục trong giới thứ hai của thiên nhiên; y sẽ thành công khi xử lý với mọi sự sống cây cỏ, như các điểm năng lượng đáp ứng với các trung tâm năng lượng khác to tát hơn. Nhiều điều sẽ được học hỏi theo đường lối này khi điện lực và các ánh sáng màu được dùng thoải mái hơn trong các trạm thí nghiệm. Trong giới khoáng chất, phái tính (sex) tức là ái lực hóa học (chemical affinity: khuynh hướng của một số chất muốn phối hợp với các chất khác – T. Đ. OXFORD 1994) bộc lộ (display, phơi bày) trong giới đó loại thứ nhì của từ lực; trong giới thực vật, cùng một sự việc có thể được nghiên cứu trong sự sống hạt giống, và trong các tiến trình thụ phấn của mọi cây cỏ. Neptune (Hải Vương Tinh), Vị Thần của Nước, có một mối liên hệ lạ lùng với Hành Tinh Thượng Đế chúng ta, và cũng với Thực Thể (Entity), Đấng đang là sự sống làm linh hoạt của giới thứ hai.

Giới động vật đáp ứng với một loại năng lượng vốn không là lửa, cũng không phải là nước, mà là kết hợp của cả hai. Chúng cũng là giới đầu tiên trong các giới trên cõi trần đáp ứng với âm thanh (sound), hay với năng lượng phát ra từ những gì mà chúng ta gọi là tiếng động (noise). Đây là một sự kiện huyền linh đáng quan tâm chặt chẽ. Năng lượng tỏa ra từ Thực Thể Thông Linh, Đấng đang là Sự Sống làm linh hoạt của giới thứ ba trong thiên nhiên, có năm vận hà tiếp cận, đó là năm trung tâm lực. Để làm sinh động giới thứ tư, có bảy trung tâm lực, vì thể trí và trực giác được thêm vào. Trong giới thứ hai có ba trung tâm lực, nhưng biểu lộ của chúng còn lờ mờ đến độ dường như thực sự không hiện hữu đối với trí người.

Trong giới thứ nhất tức giới khoáng chất, con đường tiếp cận bị giới hạn vào một trung tâm lực. Do đó, điều sẽ được quan sát là sự kích thích của năng lượng từ lực tiến hành từ những gì có thể được xem như các bước nhảy, 1 – 3 – 5 – 7. Mỗi giới bắt đầu với một trang bị đặc biệt và trong diễn trình tiến hóa của giới, trang bị đó được thêm vào cho nên sự sống giải thoát tiến vào giới kế tiếp với trang bị cũ của nó cộng thêm một.

Giới nhân loại cũng đáp ứng với năng lượng. Lần này chính năng lượng của lửa ở biểu lộ cao nhất của nó trong ba cõi thấp. Cần phải nhớ rằng chúng ta đang đề cập tới năng lượng của Tổng Thể vĩ đại khi nó tác động đến các điểm năng lượng dương. Chúng ta không đề cập đến năng lượng của hình hài.

Nguyên tử trở nên đáp ứng với năng lượng hình hài hoặc với những gì đang bao quanh nó. Nó trở nên có ý thức và kế đó trở nên đáp ứng với mãnh lực của giới mà nó là một phần trong đó. Nó từ từ trở nên đáp ứng với các ảnh hưởng mạnh hơn hoặc với mãnh lực phát ra từ Thực Thể Thông Linh, Đấng vốn là sự sống của giới đó.

Sau cùng, nguyên tử trở nên có ý thức về năng lượng hành tinh, hay đáp ứng với Chính Hành Tinh Thượng Đế.
Lúc đó, nó vượt qua giới mà trong đó nó đã sống và được nâng lên đi vào một giới khác mà chu kỳ được lặp trở lại.

Mọi điều này có thể được diễn tả bằng các thuật ngữ về tâm thức, nhưng trong tiết này, chúng ta sẽ giới hạn tư tưởng chỉ vào ý tưởng về năng lượng mà thôi. Để tóm tắt, có thể nói rằng:

1. Hành Tinh Thượng Đế có bảy trung tâm lực, giống như con người.
2. Sự Sống làm linh hoạt của giới động vật có năm trung tâm lực, và giới động vật có năm nguyên mẫu trên cõi nguyên hình, trong lúc con người có bảy nguyên mẫu (prototypes).
3. Đấng làm linh hoạt của giới thực vật có ba trung tâm lực trên cõi riêng của Ngài, do đó chỉ có ba kiểu sự sống thực vật căn bản. Tất cả những gì mà chúng ta biết chỉ là các biến phân của ba kiểu này.
4. Đấng làm linh hoạt của giới khoáng chất hoạt động qua một trung tâm lực.

b/ Phóng xạ trong năm giới. Chúng ta đã thấy rằng nguyên nhân của sự phóng xạ (radiation) là sự đáp ứng của sự sống dương (positive, tích cực) trong bất cứ nguyên tử nào đối với lực hút của sự sống tích cực trong một nguyên tử vĩ đại hơn. Nói cách khác, chúng ta có thể bảo rằng sự sống thiên thần của bất luận hình hài nguyên tử nào tiếp tục với sự tiến hóa của nó, và bằng một loạt các “tháo gỡ” (“releases”) chuyển chính nó trong các chu kỳ khai nguyên ra khỏi một giới này vào trong một giới khác cho đến khi mọi nguyên tử đạt được tự quyết (self-determination), và như thế mục đích của Hành Tinh Thượng Đế trong bất cứ đại chu kỳ khai nguyên đặc biệt nào được hoàn thành một cách thỏa đáng. Do đó, như có thể mong đợi, khi vấn đề được xét dưới hình thức một tổng thể chứ không theo quan điểm của bất cứ một giới nào, trong diễn trình tiến hóa, có năm sự nhất-quán (at-one-ments) xảy ra.
1. Nhất-quán với giới khoáng chất.
2. Nhất-quán của Chân Thần khoáng chất với giới thực vật.
3. Nhất-quán của Chân Thần thực vật với giới động vật.
Sự sống lũy tiến giờ đây đã tạo được ba nhất-quán hay là mở rộng nhận thức của nó ba lần.
4. Nhất-quán với giới nhân loại.
5. Nhất-quán với Hành Tinh Thượng Đế hoặc với sự sống hành tinh vĩ đại.

Cùng với năm giai đoạn này, một trong các nhất-quán đó được xem xét trong thái dương hệ này trở thành quan trọng nhất, đó là sự nhất-quán với giới nhân loại. Đối với chu kỳ lớn đặc biệt này, mục tiêu của tiến hóa là con người; khi đạt được sự biệt ngã hóa và sự tự quyết được khơi dậy, Monad hay là Người Hành Hương Thiêng Liêng (Divine Pilgrim) đã đạt đến những gì biểu lộ thiên-ý hoàn hảo nhất. Các giai đoạn sau chỉ đặt vương miện lên kẻ chiến thắng và sự nhấtquán cuối cùng với Linh Ngã (divine Self) chỉ là sự hoàn tất của giai đoạn thứ tư. Các nhà nghiên cứu sẽ thấy lý thú khi giải đáp được sự tương ứng giữa năm cuộc điểm đạo với năm sự hợp nhất (unifications, nhất quán) này. Có một liên hệ chặt chẽ giữa cả hai. Bằng cách hiểu được các định luật của các giới khác nhau, nhiều điều có thể học được liên quan đến các tình trạng đang chi phối năm cuộc điểm đạo. Người ta thấy rằng các cuộc điểm đạo đánh dấu các giai đoạn trong sự đáp ứng để tiếp xúc và để nhận thức vốn có các mầm mống lý thú của chúng trong năm giới.

Ở đây có thể nêu ra với sự thích đáng rằng phóng xạ là kết quả của sự chuyển hóa; việc chuyển hóa đánh dấu sự hoàn thành một chu kỳ của hoạt động quay xoắn ốc. Không một nguyên tử nào trở nên phóng xạ cho tới khi nhịp điệu bên trong của chính nó đã được kích hoạt đến một điểm mà sự sống tích cực ở trung tâm trở nên sẵn sàng cho việc áp đặt một hoạt động cao hơn, và khi các sự sống tiêu cực trong vòng chu vi nguyên tử bị đẩy lui bằng sức mạnh của rung động của nó và không còn bị thu hút bởi các tính chất lôi cuốn của nó nữa. Điều này do bởi việc tiến gần và sự đáp ứng sau đó với rung động từ lực của một sự sống tích cực còn mạnh hơn nữa, sự sống này giải thoát tia sáng trung tâm bị giam nhốt và gây nên cái mà theo một số khía cạnh có thể được gọi là sự phân tán (dissipation) của nguyên tử. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, tiến trình này bao gồm một thời gian rộng lớn đến nỗi trí óc con người không thể theo dõi được diễn trình.

Đa số giai đoạn phóng xạ đều dài nhất trong giới khoáng chất, và ngắn nhất trong con người. Chúng ta không bận tâm đến phóng xạ trong giới tinh thần vào lúc kết thúc kỳ đại khai nguyên, thế nên không có lời bình nào sẽ được đưa ra ở đây.
Thật là lý thú mà ghi nhận rằng trong cuộc tuần hoàn này, do quyết định cấp hành tinh, tiến trình tạo ra phóng xạ con người hay là “giải thoát” (“release”) được kích hoạt nhân tạo qua phương pháp mà chúng ta gọi là điểm đạo và đường đi tắt (short cut) đến sự thanh luyện cao độ và sự kích hoạt được mở ra với tất cả những ai sẵn sàng vượt qua ngọn lửa luyện đan thiêng liêng. Cùng lúc, trong các giới khác của thiên nhiên, một tiến trình phần nào giống như vậy dù không ở cấp độ được thử nghiệm. Việc tận dụng quá mức các quặng mỏ, công việc khoa học của nhà hóa học, và sự nghiên cứu khoa học tương tự trong giới khoáng chất đối với các tiến trình thế giới vốn đang được sử dụng để giải thoát tia linh hỏa của con người. Thí dụ do sự hỗn độn và xáo trộn của Thế Chiến và ảnh hưởng của kim loại đang bị sự tan rã dữ dội, Chân Thần khoáng chất được biết đến như từ cuộc thử thách khởi đầu, không thể hiểu được vì điều này có vẻ như thế. Điều sẽ thành hiển nhiên là một hoạt động lớn lao cùng lúc đang đi đến chỗ tạo ra phóng xạ nhanh hơn nhiều trong mọi giới của thiên nhiên sao cho khi chu kỳ đang diễn ra, thì tiến trình của phóng xạ hành tinh có thể trở nên hoàn tất. Sự tu dưỡng mãnh liệt này không diễn ra trên mọi hành tinh mà chỉ trên rất ít hành tinh. Các hành tinh khác sẽ hoạt động theo chu kỳ dài hơn. Tiến trình vun trồng mở đầu vốn dự kiến kích hoạt phóng xạ từ lực hoặc chuyển hóa chỉ là một thực nghiệm. Tiến trình đó được thử lần đầu trên Kim Tinh (Venus) và nói chung tỏ ra thành công, đưa đến kết quả trong việc hoàn thành mục tiêu hành tinh trong năm cuộc tuần hoàn thay vì bảy. Đây là những gì đã được làm nếu có thể vận dụng năng lượng của Venus trên dãy Venus và bầu Venus của hành tinh hệ chúng ta, và như thế tạo nên hiện tượng biệt ngã hóa bắt buộc vào thời Lemuria. Đó là sự kích hoạt mạnh mẽ của giới thứ ba của thiên nhiên, trong căn chủng thứ ba vốn được hợp nhất một cách nhân tạo ba trạng thái. Tiến trình kích hoạt nhờ vào năng lượng Venus thật sự đã bắt đầu trong cuộc tuần hoàn thứ ba khi tam giác lực được hoàn tất và sẵn sàng hoạt động. Chính yếu tố này mà về mặt huyền linh làm cho cuộc điểm đạo thứ ba có tầm quan trọng phi thường như thế. Trong đó tam giác con người được nối liền, MonadEgo, và phàm ngã, hay là VenusMặt Trời và Địa Cầu được liên kết về biểu tượng.

Ở đây cũng đủ để mang lại cho nhà nghiên cứu cơ hội để suy nghiệm, dù một thuật ngữ liên quan đến việc này có thể được thêm vào. Trong các đặc tính phóng xạ có thể có của bốn giới trong thiên nhiên mà chúng ta quan tâm nhất, có một tương ứng lý thú với các chức năng của bốn hệ thống hành tinh vốn (trong toàn thể của chúng) hợp thành tứ nguyên của Thượng Đế. Điều này cũng áp dụng ở một mức độ thấp hơn cho bốn dãy vốn hợp thành tứ nguyên hành tinh. Tất cả phải trở nên phóng xạ và tất cả các nguyên khí của chúng phải được chuyển hóa và dạng thức mà vì đó chúng chịu trách nhiệm được siêu việt.

Khi vấn đề phóng xạ được hiểu đầy đủ hơn, người ta sẽ thấy rằng nó giải thích thêm trường hợp nữa về sự hợp nhất của mọi sự sống, và cung cấp thêm sự chỉ dẫn xác minh về bản chất tổng hợp của toàn bộ diễn trình tiến hóa. Trong mỗi trường hợp, những gì tỏa ra từ mỗi giới của thiên nhiên đều là một và như nhau. Con người phóng xạ thì như nhau trong thiên nhiên (chỉ khác ở mức độ và trong sự đáp ứng có ý thức) giống như khoáng chất phóng xạ; trong mọi trường hợp chính là sự sống tích cực trung tâm, tức tia lửa điện hay cái vốn là sự tương ứng của nó, mới phát xạ. Do đó có bảy tương ứng trong mối liên hệ này trong thái dương hệ, bảy kiểu mẫu vốn phát xạ, hay là bảy hạng thực thể vốn biểu lộ năng lực để vượt qua hoạt động bình thường của chúng và để chuyển đổi chính chúng thành một lĩnh vực nào đó lớn hơn trong đường tiến hóa. Đó là:

1. Chân Thần khoáng thạch của giới khoáng chất hay là hạt nhân dương ở giữa trong mọi nguyên tử và các yếu tố.
2. Chân Thần trong giới thực vật, hay là sự sống tích cực ở giữa của mọi cây cối và sự tăng trưởng thực vật.
3. Chân Thần trong giới động vật hay là sự sống tích cực của mỗi loại (type).
4. Các Chân Thần nhân loại trong hàng tỉ nhóm của chúng. 5. Chân Thần của bất cứ kiểu mẫu đặc biệt nào, hay hình hài.
6. Chân Thần hành tinh, tổng cộng của mọi sự sống trong một hành tinh hệ.
7. Chân Thần thái dương hay là toàn thể mọi sự sống trong thái dương hệ.

Mỗi một trong các Chân Thần này trước tiên đều quay tròn trong hoạt động của nó, hay cho mình là trung tâm (selfcentred, trụ vào cái ngã); đồng thời sau đó mỗi Chân Thần với chuyển động ban đầu của nó biểu lộ hoạt động xoắn ốc theo chu kỳ. Do đó, nó trở nên “biết được” hình tướng, và sau cùng trở nên phóng xạ. Trong giai đoạn sau cùng này, nó vượt qua hình tướng và thoát ra khỏi đó, như thế trở nên biết đến và có thể tham dự vào hoạt động của tổng thể bao bọc còn lớn hơn.

c. Phóng xạ và Định Luật Chu Kỳ. Rải rác khắp Bộ Luận này là nhiều chỉ dẫn về bản chất chu kỳ của hiện tượng này, và nhà nghiên cứu nên nhớ rằng trong tất cả những gì liên quan đến sự phóng xạ, giống như trong mọi hiện tượng khác, sẽ có những giai đoạn yên tĩnh và các giai đoạn hoạt động mãnh liệt. Điều này sẽ được biết rất rõ ràng liên quan với giới thứ tư của thiên nhiên. Một giai đoạn hoạt động phóng xạ được bắt đầu hiện giờ trong đó nam lẫn nữ sẽ đạt được một nhận thức rộng lớn hơn; họ sẽ bắt đầu vượt qua các giới hạn nhân loại của họ và tiến vào giới thứ năm từng người một và từng đơn vị một. Ở mức độ liên quan tới chu kỳ lớn hơn, giai đoạn này đã bắt đầu khi Cánh Cửa Điểm Đạo được mở ra vào thời Atlantis, nhưng nhiều chu kỳ nhỏ hơn đã xảy ra, vì dòng lưu nhập trong giới thứ năm cũng bị chi phối bởi định luật chu kỳ, bởi sự dao động lên xuống theo chu kỳ. Vào cuối căn chủng thứ tư, có một giai đoạn hoạt động phóng xạ riêng biệt, hàng trăm người vượt ra ngoài Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư (tức Huyền Giai của các Chân Thần nhân loại – xem qua trang 1099. ND) – đi vào một Huyền Giai khác, cao hơn. Từ trước đến giờ nhiều nhiệm vụ được Các Đấng Cao Cả của Venus nắm giữ được bỏ trống để nhân loại chúng ta có thể giữ các vị trí đó, và một sự phóng xạ bao la giữa các dãy hành tinh bắt đầu hoạt động khi nhiều vị Kumaras và một số sự sống thấp hơn rời dãy địa cầu chúng ta và bắt đầu công việc tinh anh hơn và tiến bộ hơn. Kế đó hoạt động từ từ suy giảm cho đến khi một chu kỳ tái diễn mang lại các ảnh hưởng vốn tạo ra một sự phóng xạ mới, mặc dù không mạnh mẽ bằng trong chu kỳ trước.

Một giai đoạn phóng xạ khác xảy ra trong thời Đức Phật và nhiều quả vị La Hán được đạt đến trong thời này. Thời kỳ đó là điểm cao nhất của những gì mà về mặt huyền linh được gọi là “một chu kỳ cấp ba”, và một cấp hoạt động phóng xạ tương tự đã không được đạt đến từ thời đó. Phóng xạ con người có bản chất rất yếu được cảm nhận vào thời Đức Christ, nhưng nó chỉ kéo dài trong hai trăm năm, và dầu cho các cá nhân đây đó đã đạt được mục tiêu từ đó, tuy nhiên không có được một số lớn đã trải qua một cách thành công các lửa chuyển hóa, và như thế vượt qua giới thứ tư. Lần nữa chu kỳ ở trên vòng đi lên; vào thế kỷ XIV, giới nhân loại bắt đầu có phóng xạ dễ nhận thấy, và chúng ta đang ở trên đường hoàn thành “một chu kỳ thuộc đẳng cấp thứ hai” hay là của một giai đoạn siêu việt với một hoạt động còn lớn hơn là trong thời của Đức Phật. Việc đó sẽ trở nên vĩ đại một cách có thể minh chứng được khi một số điều kiện đã được hoàn thành.

Thứ nhất, khi sự hỗn độn của thế giới hiện tại đã giảm bớt. Kế tiếp, khi thế hệ hiện tại đã hoàn thành công việc tái kiến thiết của nó. Thứ ba, khi Đấng Cao Cả sắp đến bắt đầu nhiệm vụ của Ngài trên địa cầu, nhờ đó tăng thêm mức rung động trong mọi giới của thiên nhiên, nhưng đặc biệt trong giới thứ hai và thứ tư.
Thứ tư, khi hoạt động, được khai mở vào cuối mỗi thế kỷ của Thánh Đoàn Xuyên Hy Mã Lạp Sơn được triển khai, và các Egos tâm lý – khoa học (psycho-scientific) vốn là các bàn tay thừa hành của Thánh Đoàn đã làm cho sự hiện hữu của họ được cảm nhận.

Sau cùng, khi một phong trào được Thánh Đoàn thành lập, hoạt động liên quan đến căn chủng thứ tưphong trào đó cũng sẽ là một phần của tiến trình kích hoạt và sẽ tạo ra kết quả trong việc làm cho phóng xạ một số tư tưởng gia hàng đầu của căn chủng đó. Đó sẽ là thời cơ của họ, và tầm quan trọng gắn liền với việc đó lớn đến nỗi một thành viên của Thánh Đoàn (Lodge), Đức Khổng Tử (Confucius), như Ngài đã được gọi trong quá khứ, sẽ lâm phàm để trông nom công việc. Các giai đoạn mở đầu đang được chọn hiện nay, và các Egos đang tiến nhập, họ sẽ nỗ lực để điều khiển năng lượng của căn chủng này vào đúng đường lối mặc dù đỉnh điểm của chu kỳ kích hoạt sẽ không xảy ra cho đến giữa thế kỷ tới. Tôi không cần nêu ra rằng tất cả các phong trào như thế được cảm nhận trước tiên như là gây xáo trộn, và chỉ khi nào bụi bặm của xáo trộn, và tiếng ồn của các lực va chạm đã tàn tạ thì mục tiêu sẽ được thấy xuất hiện. Điều này rất rõ rệt ở nước Nga (Russia) hiện nay.

Một yếu tố lớn lao và là yếu tố khó giải thích để cho kẻ suy tưởng bậc trung có thể hiểu, đó là việc tiến nhập theo chu kỳ của các Egos vốn đang ở mức tiến hóa nơi mà họ sẵn sàng cho cuộc sống phóng xạ đầu tiên của họ. Trong một đại bộ phận của nỗ lực của Huyền Giai, mọi Egos đều được chia thành hai nhóm, tùy theo chu kỳ của họ và tùy theo kiểu mẫu năng lượng của họ nữa. Đến lượt, các cấp độ này được chia nhỏ tùy theo tính chất và hiệu quả rung động được gợi ra nơi bất luận một giới nào của thiên nhiên bởi sự luân hồi, kết hợp hoặc đơn độc, của họ. Điều này có thể được minh họa bằng cách nêu ra rằng do sự tiến nhập từ từ của con người vốn là những người ăn chay bởi khuynh hướng tự nhiên và do sự xuất hiện của các Egos vốn chú ý đặc biệt vào việc chăm sóc và bảo dưỡng các động vật (như trong trường hợp rất đáng chú ý hiện nay) chúng ta có sự xuất hiện theo chu kỳ của một toàn bộ nhóm các đơn vị nhân loại, họ có một liên hệ nghiệp quả rõ rệt với giới thứ ba. Mối liên hệ này thuộc về một loại khác ở chi tiết đặc biệt khác với các nhóm ăn thịt và thường tàn bạo (inhuman), của năm trăm năm về trước.

Có thể là hữu ích và đáng chú ý nếu ở đây chúng ta liệt kê một số thuật ngữ huyền linh học, được áp dụng cho một số các nhóm khác nhau này, nhớ rằng chúng ta chỉ đề cập tới một vài trong số rất nhiều nhóm và chỉ gọi tên các nhóm mà cách đặt tên cho chúng gợi ra kiến thức và lợi ích về giáo dục cho người nghiên cứu:

1. Các đơn vị trì trệ (units of inertia),
2. Các nguyên tử có sự tập trung nhịp nhàng,
3. Các đơn vị phóng xạ sơ cấp,
4. Các con có nhịp điệu nặng nề,
5. Các điểm vượt trội bốc lửa (một tên gọi thường dành để chỉ các kiểu mẫu từ lực tiến hóa cao),
6. Các điểm cấp ba của lửa cấp hai,
7. Các ngọn lửa từ lực (dành để chỉ các đệ tử và các điểm đạo đồ ở vài cấp độ),
8. Các con tích cực của điện,
9. Các đơn vị quay của đẳng cấp thứ bảy,
10. Các điểm ánh sáng của lũy tiến thứ tư (fourth progression),
11. Các tia lửa điện (electric sparks),
12. Các đơn vị đề kháng tiêu cực,
13. Các nguyên tử được làm cho thăng bằng,

Nhiều tên gọi nữa có thể được đưa ra, nhưng các tên gọi này cũng đủ để chỉ ra bản chất tổng quát của các tập hợp năng lượng này, theo đó, mọi thành viên của gia đình nhân loại được tập hợp lại và xếp đặt tùy theo:

a/ Nhịp điệu của chúng, b/ Tính chất của chúng, c/ Sức nóng của chúng, d/ Ánh sáng của chúng, e/ Ảnh hưởng từ lực của chúng, f/ Phóng xạ của chúng, g/ Hoạt động của chúng.
Bảng liệt kê này chỉ là một mở rộng của bảng liệt kê chính, bảng này tập hợp mọi Chân Ngã dưới các phân chia về màu sắc, âm thanh và rung động. Một liệt kê tương tự cũng đã tập hợp các nguyên tử trong các giới khác của thiên nhiên, và ngay cả các Dhyan Chohans ở cấp cao nhất cũng thấy vị trí của các Ngài trong các ký ảnh của Thánh Đoàn của bộ môn thứ năm (hoặc thứ ba) này.
Một bảng liệt kê theo chu kỳ cũng đáng chú ý, nhưng có bản chất hoàn toàn khác, đem đến cho kẻ tìm kiếm được điểm hóa và có trực giác nhiều gợi ý về giá trị phát triển và lịch sử. Lại nữa chúng ta có thể thêm vào một tóm lược vắn tắt về một vài trong các diễn đạt được dùng, và của một số trong các tên gọi mà con người được tập hợp dưới các danh xưng đó trong các ký ảnh của bộ môn thứ bảy:

1. Các đơn vị của giai đoạn sương mù-lửa (fire-mist),
2. Các mức độ của nguồn gốc nguyệt cầu (lunar origin),
3. Các con của mặt trời,
4. Các devas cấp thứ tư,
5. Các ngọn lửa từ các khối cầu liên hành tinh,
6. Các nguyên tử từ bầu đỏ thắm – một tham khảo đối với một số Egos đến với địa cầu từ hệ hành tinh mà nốt của nó màu đỏ,
7. Các Vyasians thành công,
8. Các điểm trong cánh hoa hành tinh thứ ba, và các nhóm của các hành tinh khác có liên quan với các hoa sen hành tinh có 12 cánh,
9. Những người yêu thích rung động thấp,
10. Những kẻ không nhận hành tinh hệ thứ tám,
11. Các điểm đối kháng ba mặt,
12. Những người đi theo vị Arhat,
13. Các con của hòa bình theo chu kỳ,
14. Các con tái diễn của chiến tranh,
15. Các đốm nhỏ bên trong con mắt hành tinh,
16. Các điểm được nhận biết bên trong các luân xa. Các điểm này tồn tại tự nhiên trong mười nhóm.
Mỗi danh xưng đều truyền đạt cho trí óc của điểm đạo đồ một số tri thức về vị trí trong sự tiến hóa của Monad có liên hệ, bản chất của các cuộc lâm phàm của nó và vị trí của nó trong cơ tiến hóa theo chu kỳ.